Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/01/2008 00:24 (GMT+7)

Sự ô nhiễm môi trường

Có lẽ chưa bao giờ mức độ ô nhiễm môi trường (ÔNMT) lại đến mức báo động như bây giờ. Nó đã trở thành vấn đề của cả thế giới mà không phải chỉ của riêng quốc gia hay vùng lãnh thổ nào. Quả thật, trong những năm trở lại đây thiên tai, hạn hán, bão lụt, lốc xoáy… liên tiếp xảy ra và lần nào cũng để lại hậu quả nghiêm trọng. Đó là hệ quả tất yếu của việc khai thác môi sinh một cách bừa bãi không có quy hoạch và tái sinh. Ngoài ra, các căn bệnh hiểm nghèo (ung thư) cứ “bắt tay” nhau và ngày càng nhiều. Đó cũng là hệ quả của việc môi trường bị ô nhiễm do sự phát triển ồ ạt của công nghệ trong đó có nguồn gốc từ hoá học. Trong phạm vi bài này, chỉ đi vào một số loại ÔNMT có tác nhân từ hoá chất.

1. Ô nhiễm không khí

Khí quyển của chúng ta được chia thành nhiều tầng, trong đó có tầng ozon. Ozon (ozon trong tiếng Hy Lạp nghĩa là “toả mùi”), được Friederich Schoben người Thuỵ Sĩ phát hiện năm 1840 và năm 1858 đã được Houzeau người Pháp xác định là thành phần quan trọng của khí quyển.

Ozon do 3 nguyên tử oxi kết hợp với nhau, chúng được hính thành dưới tác động của bức xạ mặt trời, sấm sét… Độ dày, mỏng của tầng ozon ở mỗi nơi là không giống nhau. Tầng ozon có tác dụng quan trọng trong việc ngăn cản các tia cực tím nguy hiểm từ mặt trời chiếu xuống trái đất.

Hiện nay, tầng ozon đã báo động là đang “thủng” nghiên trọng. Hiện tượng này được giải thích có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là do các khí thải công nghiệp như CFC, NO 2… Những dữ liệu năm 1994 của UNEP-WMO (tổ chức môi trường thế giới) đã chứng minh rằng các hợp chất hữu cơ có chứa clo và brom, khi đi vào tầng bình lưu đã giải phóng nguyên tử clo và brom, đưa chúng về chu kỳ xúc tác phá hoại ozon. Axit clohyđric do núi lửa phun ra không hoà tan được trong nước khí quyển và không bị nước mưa quét sạch trước khi đi vào tầng bình lưu. Năm 1979, người ta mới phát hiện ra tầng ozon đang bị bào mòn và cho tới nay đã bị thủng ở rất nhiều nơi. Theo ước tính, khi tầng ozon giảm đi 10% thì lượng tia cực tím tăng lên khoảng 13%. Và cứ giảm đi 11% ozon thì sẽ làm tăng 2% trường hợp ung thư da.

Một số tác nhân gây thủng tầng ozon:

Các chất clofloucacbon (CFC) có tác dụng làm phồng các tấm cách nhiệt (cách âm) và dung môi trong công nghiệp điện tử, cơ khí, chất làm lạnh trong tủ lạnh, chất đẩy trong các bình xịt tóc… là một trong những tác nhân gây nguy hiểm nhất với tầng ozon. Loại hay dùng nhất là Freon, có thời gian tồn tại rất lâu dài, từ 50 - 400 năm tuỳ loại. Chúng bay lên không trung tận tầng cao nhất của khí quyển, gặp các tia cực tím và bị vỡ ra làm clo được giải phóng. Mỗi nguyên tử clo phá huỷ một phân tử ozon và để tạo thành một phân tử ClO, oxit này lại phản ứng với một oxi nguyên tử để tái tạo clo nguyên tử, sau đó, tiếp tục phá huỷ một phân tử ozon khác. Một nguyên tử clo có thể phá huỷ khoảng 100 nghìn phân tử ozon trước khi bị phản ứng trở lại thành dạng ổn định gọi là “bình chứa”.

Rất may, hiện nay, chất này đã bị cấm sử dụng. Nhưng không phải vì thế mà tầng ozon không tiếp tục bị thủng, lượng tàn dư của nó trong khí quyển vẫn còn, thêm vào đó các oxit của nitơ và lưu huỳnh cũng có tác hại tàn phá tương tự.

Hậu quả của việc thủng tầng ozon tới khí hậu: giảm thời gian có nắng, đồng nghĩa với việc thời gian mưa sẽ tăng lên. Đất đai không có vôi, tăng nồng độ axit dẫn đến căng cỗi.

Hậu quả trực tiếp tới con người: tăng rối loạn tim mạch, hô hấp, các bệnh phổi, hen, ung thư phổi, ung thư da và các bệnh da liễu…

Với các công trình nghệ thuật lịch sử: đá bị ăn mòn, mặt ngoài công trình bị cáu bẩn, các bộ phận kim loại gỉ sét nhanh chóng…

2. Ô nhiễm nguồn nước

Nước là nguồn sống của con người và mọi loại sinh vật, ngoài ra nó rất cần thiết cho rất nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp… Tuy nhiên hiện nay, nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề.

Có nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước, trong đó có một số nguyên nhân sau:

a. Ô nhiễm hoá học:

Do các chất thải công nghiệp chưa được xử lý, bao gồm các chất thải vô cơ và chất thải hữu cơ. Nhiều chất chỉ cần với hàm lượng 1mg/ lít cũng đủ để giết chết các động vật (như cromat, xianua..), cũng có thể là hyđrocacbua, các chất tẩy rửa. Chất bẩn từ quần áo, chất thải từ phân người có khoảng 4,9g phốt pho/ ngày. Hậu quả là nếu thải vào nguồn nước sẽ làm tăng nhanh các sinh vật nổi và thủ tiêu dần một số động vật khác dưới nước.

Nước thải ở các hệ thống thoát nước đô thị, các lò sát sinh, các trại chăn nuôi, nhà máy thực phẩm, nhà máy giấy… Lương chất hữu cơ này trong nước đã tiêu thụ một phần không nhỏ lượng oxi hoà tan trong nước và hệ quả làm chết các động - thực vật nước.

b. Ô nhiễm có nguồn gốc nông nghiệp:

Nguồn gốc của loại này chủ yếu do hàm lượng nitơ trong đất quá mức cho phép vì dùng phân hoá học không đúng cách và không đúng liều lượng, hoặc sử dụng phân chuồng chưa qua xử lý các độc tố. Các độc tố đọng lại trong các loại thực phẩm, vật nuôi sẽ xâm nhập vào cơ thể con người khi sử dụng. Một nguồn ô nhiễm nông nghiệp khác là do sử dụng quá liều lượng các hoá chất diệt cỏ, trừ sâu hại… Các hoá chất này tồn tại rất lâu trong đất, gây ảnh hưởng không chỉ đến nguồn đất mà còn cả nguồn nước và tất yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới con người.

Các tác hại khi bị ô nhĩêm nguồn nước:

- Đối với các loại động thực vật trong nước: Động thực vật sống được trong nước là do quang hợp được từ ánh sáng mặt trời kết hợp với việc sử dụng ôxi hoà tan trong nước để hô hấp, quang hợp. Đồng thời, chúng cũng lấy các chất dinh dưỡng trong nước để sống. Khi các chất thải hữu cơ đổ vào nước, chúng sẽ làm giảm lượng oxi hoà tan trong nước, một số hợp chất hữu cơ tích tụ, đóng váng, kết bè trên mặt nước làm giảm khả năng quang hợp của các loài thực vật, chưa kể đến các chất độc hại mà những nguồn chất thải này mang đến. Hậu quả là nhiều loại vi sinh vật bị chết, có loại bị nhiễm độc. Và hậu quả thật khó lường khi con người tiêu thụ các thực phẩm từ những nguồn nhiễm độc này.

- Đối với con người: Do dùng nước sinh hoạt bị ô nhiễm để ăn uống, tắm rửa, người ta có thể bị nhiễm khuẩn gây bệnh phổ biến, các bệnh dạ dày, ruột, nhiễm virut, viêm gan, nhiễm ký sinh trùng, giun sán… Ngoài ra, bị các khoáng chất độc hại xâm nhập cơ thể như: thuỷ ngân, chì, antimon, các nitrat làm thay đổi hồng cầu, ngăn cản quá trình cố định oxi, rất nguy hiểm, gây tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh. Nước nhiễm độc flo khi uống có thể gây hỏng men răng…

3. Ô nhiễm đất

Đất có thể bị ô nhiễm tự nhiên do thành phần của nó. Từ quá trình hình thành vỏ trái đất, đất đá đã chứa sẵn trong nó những kim loại và á kim. Ở một liều lượng nhất định trong khi khai thác sử dụng và qua các phản ứng hoá học tiếp theo, những kim loại và những á kim đều độc hại với con người và động vật trên trái đất.

Nhưng đất cũng có thể bị ô nhiễm do các hoạt động của con người bằng các chất gây ô nhiễm hữu cơ vi mô trực tiếp thấm dần xuống đất qua sự hấp thụ của cây cối hoặc theo các mạch nước ngầm. Từ đó theo đường tiêu hoá hoặc bụi bặm tác động tới cơ thể con người và động vật, gây ung thư, hay đột biến gen… Cây trồng cũng có thể bị nhiễm các chất độc vô cơ qua không khí, theo gió thấm vào cành lá.

Những nơi thường bị ô nhiễm đất nghiêm trọng là: quanh các mỏ khoáng sản, các vùng nông nghiệp thâm canh sử dụng phân phốt phát với liều lượng cao, vùng trồng nho sử dụng nhiều CuSO 4, vùng tiếp giáp các xa lộ, các sân bay lớn, vùng công nghiệp tập trung, bãi rác thành phố, bùn nạo vét từ cống rãnh, ao hồ, sông ngòi…

Một nguyên nhân gây ô nhiễm đất nông nghiệp hiện nay là do sử dụng các loại thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng kích thích không đúng liều lượng và không đúng quy định. Lượng tích tụ lâu dài của các nguồn này gây ô nhiễm nghiêm trọng tài nguyên đất nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sức khoẻ con người.

Trên đây là một số loại hình ÔNMT phổ biến và nghiêm trọng nhất hiện nay. Trên thực tế sự phát triển của ngành công nghiệp hoá học không trực tiếp gây ra ÔNMT, tuy nhiên nó lại gián tiếp gây ra điều đó. Nguyên nhân trực tiếp của hiện trạng môi trường hiện nay là do ý thức của con người. Trong quá trình khai thác tự nhiên chúng ta đã vô tình tàn phá, bòn rút nó quá mức cho phép mà khômh có sự bảo tồn và tái sinh. Môi trường là nơi để chúng ta khai thác phục vụ cho cuộc sống đồng thời cũng là “ngôi nhà chung” của toàn thế giới. Việc tàn phá môi trường của một quốc gia hay vùng lãnh thổ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quốc gia đó mà còn đến quốc gia khác. Vấn đề cấp thiết hiện nay là cần nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi người nhằm cải thiện và tái sinh môi trường sống. Đó không phải chỉ là trách nhiệm của các nhà khoa học mà là của tất cả mọi người.

Công tác giảng dạy hoá học trong trường phổ thông, các giáo viên hoá học nói riêng và các bộ môn khác nói chung, cần phải có sự liên hệ đến việc bảo vệ môi trường trong một số bài dạy phù hợp nhằm nâng cao ý thức của học sinh phổ thông.

Cuối cùng hãy cùng chung tay để giữ gìn một môi trường sống trong sạch và vững mạnh.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...