Sự ô nhiễm có thể đến trong bữa ăn hàng ngày
Trong các chất độc thường xuyên xâm nhập vào cơ thể người thì có 70% qua thức ăn, 20% từ không khí và 10% từ nước. Mức độ ảnh hưởng và sự nguy hiểm của tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước rất cao. Hậu quả đó dẫn đến một mắt xích nguy hiểm là sự ô nhiễm lương thực, thực phẩm, nước ăn uống hàng ngày của mỗi chúng ta. Trong hoàn cảnh như thế, thì sự ô nhiễm có thể xảy ra đối với con người trong từng bữa ăn, là vấn đề cần phải đặt ra.
Năm 1968, các nhà khoa học Mỹ tiến hành xét nghiệm 360 loại nông sản gồm: lương thực, trái cây, rau xanh và các sản phẩm có nguồn gốc động vật, phát hiện 159 loại có chứa chất DDT, 56 loại chứa đi – e – đrin, 55 loại chứa 666, là những thuốc trừ sâu dòng clo hữu cơ. 9 loại chứa malathion, loại chất trừ sâu dòng lân có nguồn gốc từ môi trường bị ô nhiễm, có thể do người nông dân sử dụng thuốc trừ sâu sai quy định như: phun liều quá cao, phun gần ngày thu hoạch…
Ngày nay, hiện tượng ô nhiễm thực phẩm do sử dụng tràn lan các hoá chất trong nông nghiệp đã đến mức báo động. Người nông dân thành thói quen sử dụng nhiều phân hoá học; ít sử dụng phân hữu cơ; sử dụng thuốc trừ cỏ thay cho nhân công làm cỏ; sử dụng chất kích thích sinh trưởng cho cà chua ít hạt, cho dưa, chuối có quả to, mọng… Trong chăn nuôi gia cầm dùng nhiều thức ăn tăng trọng, kháng sinh, thuốc diệt ruồi, muỗi… Còn tôm, cá… thì được nuôi thả trong các ao hồ, phần nhiều đã bị ô nhiễm bột giặt, hoá chất, thuốc trừ sâu.
Người dân thành phố đã có ý thức khá cao khi đi chợ mua sắm thực phẩm, họ không chỉ cần ngon mà cần sạch; phần nhiều người dân ở nông thôn chưa có được thói quen này; chủ yếu sự hiểu biết của họ về ô nhiễm thực phẩm còn hạn chế. Những người mẫn cảm, giờ đây khi ngồi trước bàn ăn không thể không đắn đo về độ an toàn của các món bày ra, có khi là rất thịnh soạn vì chưa hiểu rõ chúng được sản xuất hay chế biến trong điều kiện sạch hay không. Đối với họ, nếu biết chắc trong cửa hàng có các loại thực phẩm “thực sự sạch” hẳn họ không tiếc tiền mua.
Trường hợp khác bị ngộ độc là khi ăn một số loại thực phẩm chế biến sẵn. Chẳng hạn, ở một số nước thường xảy ra hiện tượng nhiễm độc thức ăn do ăn đồ hộp. Nguyên nhân là do nước trong hộp hoa quả có chứa gốc axit nitric, có thể phản ứng với thiếc (Sn) trong sắt tây không được xử lý tốt khi đóng hộp, khiến người ăn bị nôn mửa hay ỉa chảy. Hay hiện tượng, một loại sữa bột chất lượng kém ở Trung Quốc có chứa chất chì gây bệnh to đầu ở trẻ em, đã bị cấm sản xuất năm 2005.
Một vài ví dụ khác: Trong đồ uống cacao qua chế biến dễ gây ung thư ở người so với cacao tự nhiên; trong nước tương và một số loại giải khát, chứa chất chống mốc natribenzoat (C6H5COONa) có hại cho gan, thận. Rồi các loại hoa quả tươi, có thể dính thuốc trừ sâu từ đồng ruộng, hay bị ngâm tẩm các hoá chất bảo quản, thường làm giảm hứng thú khi chúng ta ăn. Các bạn thường rửa hay ngâm rau, quả trong nước muối hoặc thuốc tím (KMnO4) trước khi ăn, vì tin rằng làm như vậy là diệt được vi trùng gây bệnh và rửa sạch được thuốc trừ sâu (nếu có) và các chất bảo quản ra khỏi nông sản. Tuy nhiên, để yên tâm, nhiều người sau khi rửa vẫn gọt vỏ táo, lê… rồi mới ăn. Vấn đề là ở chỗ, chúng ta khó mà biết được loại chất bảo quản đã dùng trên hoa quả là chất gì, độc hại đến mức nào, nó có tan trong nước hay không, ngấm vào vỏ hay thịt quả đến mức nào…
Chúng ta chỉ có thể yên tâm khi trái cây chúng ta ăn không bị phun thuốc trừ sâu, không qua bảo quản bằng hoá chất. Bởi vậy, trên thế giới người ta hết sức quan tâm thực hiện các phương pháp sạch để sản xuất lương thực như: không dùng phân hoá học, hay dùng một cách hợp lý, không phun thuốc trừ sâu và chất kích thích sinh trưởng, dùng nước tưới sạch; bảo quản nông sản bằng phương pháp an toàn. Và, điều quan trọng trước hết cho nền nông nghiệp sạch là đất trồng phải sạch, không nhiễm kim loại nặng, đioxin hay tồn dư các loại thuốc trừ sâu khó phân huỷ trong môi trường.
Tuy nhiên, khi ta có trong tay nông sản sạch, vẫn có thể bị nhiễm độc bởi các chất ô nhiễm do con người chủ động đưa vào thực phẩm. Chẳng hạn, người ta trộn diêm tiêu (muối nitrat) vào thịt khi làm món lạp xường để thực phẩm có màu đẹp, ăn cho ngon, đồng thời bảo quản được lâu ngày, mặc dù họ đã biết tác hại của gốc nitrat khi nó xâm nhập vào cơ thể. Có vài chuyện khác được dư luận xã hội quan tâm trong nhiều năm vừa qua ở nước ta. Đó là chuyện dùng formon trong làm bánh phở, bún… để chống thiu. Như đã biết, fomon (fomalin) là dung dịch fomađehit 40% trong nước, là một chất sát trùng, để tẩy uế, bảo quản xác ước trong bệnh viện… Fomanđehit là anđehit đơn giản nhất, khối lượng phân tử nhỏ (M = 30) có tính khử dễ xâm nhập vào các bộ phận cơ thể khi con người ăn phải. Chuyện dùng hàn the làm phụ gia thực phẩm, tạo độ cứng, độ giòn cho giò, chả, bánh sợi… giảm bớt nguy cơ ôi thiu. Hàn the là borăc, tức là natritborat (Na2B4O7.10H2O) có nhiều ứng dụng trong công nghiệp đồ gốm, thuỷ tinh màu, dược phẩm, chất sát trùng… Không được phép dùng làm phụ gia thực phẩm vì nó có thể gây truỵ tim, co giật, hôn mê cho con người. Có người dã tâm cho cả thuốc trừ sâu DDT hay phân đạm vào rượu trắng để gây cảm giác độ rượu cao đối với người uống, đạm chỉ là thứ phân để bón ruộng. Ở Trung Quốc, bọn gian thương dùng thủ đoạn này để pha chế rượu Mao Đài rởm lừa gạt được nhiều người.
Các loại chất màu thực phẩm hiện nay cũng được dùng khá tuỳ tiện, khiến thực khách khó an tâm khi ngồi trước những món ăn đầy màu sắc.
Điều mà con người quan tâm nhiều là sự xuất hiện các tác nhân gây ung thư trong chuỗi thực phẩm. Trong hàng ngày những thứ lạ rơi vào thức ăn, chắc chắn có hàng loạt tác nhân gây ung thư. Các chất gây nhiều lo lắng về nguy cơ gây bệnh cho con người là gốc nitrat (NO3 -), các kim loại nặng, các thuốc trừ sâu chứa clo…
Chất màu thực phẩm cũng có khả năng gây ung thư. Chẳng hạn, vào những năm 20 – 30 của thế kỉ trước, ở nhiều nước người ta dùng thuốc nhuộm azodimetylaminobenzen để nhuộm màu macgarin (bơ thực vật). Khi biết rằng nó có khả năng gây ung thư gan cho các con vật thí nghiệm, nó lập tức bị cấm dùng làm chất màu thực phẩm. Những năm 80, lại rộ lên tranh cãi rằng liệu các chất đường hoá học xakharin và xiclamat có phải là tác nhân gây ung thư không. Ngày nay, nitrosamin được coi là chất gây ung thư nguy hiểm, mặc dù vẫn chưa đủ chứng cớ xác định nó gây ung thư cho con người. Trong các loại thức ăn, muối và giăm bông các hợp chất N-nitroso, tên chung cho các nitrosamine nitrosamit, có hàng lượng cao. Các loại thức ăn rán làm tăng hàm lượng nitropyrolidin. Thường thì các chất nitrosamin có chủ yếu trong các sản phẩm thịt có xử lý nitrit hoặc nitrat. Trong rượu uyski (Scotlen) có chứa lượng nitrosamin gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người.
Điều đặc biệt nguy hiểm hiện nay là cách sử dụng rộng rãi các nitrosamin và phương thức tạo nên chúng. Các nitrat xuất hiện ở chỗ có nitrat, còn các nitrat là những chất rất thông thường mà tự bản thân con người đem vào tự nhiên như: các loại phân đạm… Từ nitrit tạo thành nitrosamin theo con đường rất phức tạp, có sự tham gia của nước bọt con người. Trong nước bọt cũng có lượng nhỏ nitrat và nitrit, nhưng khi ăn chỉ một lượng nhỏ thực phẩm có chứa chất nitrit thì mức độ nitrit trong nước bọt tăng rất nhanh và đó chính là nguy cơ tạo nên các nitrosamin.
Nguồn nitrat và các tiền chất của N-nitroso, chẳng hạn các hợp chất aminitroso hoá, xâm nhập vào con người chủ yếu là thực phẩm nguồn gốc thực vật, nước uống, thịt muối, còn có thể là thuốc trừ sâu, thậm chí cả thuốc chữa bệnh như: các loại thuốc có chứa aminophenazon nay đã bị thu hồi hay thuốc lá, mỹ phẩm… Trên thực tế, biện pháp phòng ngừa tác hại của nitrosamin là giảm hẳn lượng nitrat trong các thực phẩm nguồn gốc động vật. Có trường hợp, chất độc hại tự sản sinh trong loại thực phẩm chất lượng kém. Chẳng hạn, trong hạt lạc mốc có chứa aflatoxin, một chất độc hại gây ung thư. Năm 1960, ở Na Uy một số xí nghiệp nuôi gà dùng lạc nhân bị mốc của Brazil làm thức ăn cho gà, khiến 10 con gà bị chết trong thời gian ngắn. Đây là bài học lớn nhắc nhở con người phải quan tâm đến chất lượng thực phẩm không chỉ con người mà cho cả vật nuôi.
Ở nước ta, những năm gần đây, trong nhân dân chủ yếu ở thành phố, mới hình thành ý thức sử dụng các nông sản sạch như: rau, quả, thịt sạch… Trong khi đó, ở những nước phát triển, từ những năm 70 của thập kỉ trước, người ta đã chú trọng đến chất lượng thực phẩm, không cho nhập vào nước mình những loại thịt có hàm lượng kháng sinh cao, những lương thực có dư lượng thuốc trừ sâu vượt ngưỡng quy định… Đặc biệt, người ta chú trọng đến các loại rau xanh trong bữa ăn hàng ngày.
Nói đến nhiễm độc qua ăn uống, cần kể đến các trường hợp rủi ro mà trên thực tế cũng không phải hiếm gặp. Đó là trường hợp uống nhầm phải loại thức ăn, nước uống có chất độc, tự tử bằng thuốc trừ sâu… Ví dụ như “sự kiện bột nhãn hiệu Nước Rùng” ở Nhật Bản khiến 12.000 khách hàng bị ngộ độc asen (As) trong đó có 128 người bị chết. Thực tế thì asen không có trong sữa, mà do người ta pha nhầm nó vào trong quá trình sản xuất, hậu quả người ăn phải chịu. Năm 2003, ở Bắc Ninh xảy ra cảnh đau lòng trong một gia đình 5 mạng người bị chết trong một bữa ăn. Chuyện xảy ra khi ở địa phương đang diễn ra chiến dịch diệt chuột bằng thuốc hoá học, người con trai nhận số thuốc được phân phối về để tự tiến hành diệt chuột, vô tình không để vào chỗ kín đáo, mà để gần nhà bếp. Người mẹ nhìn thấy nhầm tưởng là mì chính đã bốc cho vào nồi luộc rau bắp cải. Và thế là tử thần từ bát cơm đã cướp đi 5 mạng người ngay trong một ngày. Điều này nhắc nhở mọi người cần cảnh giác với bất kì hoá chất nào, vì chúng xuất hiện rất nhiều trong môi trường xung quanh chúng ta, nào là thuốc trừ sâu, thuốc chuột, thuốc trừ muỗi, ruồi, phân hoá học… Cần phải có nhãn ghi rõ mỗi thứ, để xa nơi ăn uống, xa tầm tay người già và trẻ nhỏ, cất kĩ các hoá chất độc.
Ở nước ta, theo thống kê 2001 – 2005, trong cà nước xảy ra 998 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 23.190 người bị nhiễm độc, trong đó có 263 người bị chết.
Ngày nay, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm không còn là vấn đề riêng của một nước nào, mà là vấn đề chung của thế giới. Những lương thực hàng hoá có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hay chứa các tạp chất có hại cho sức khoẻ đều khó trao đổi trên thị trường quốc tế. Nhà nước ta thường xuyên khuyến cáo nông dân cẩn thận trong việc sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu trong quá trình sản xuất lúa, cà phê… để có các nông sản sạch, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Tháng 6 – 2006, Bộ Thủy sản nước ta đã ra chủ trương tiến hành xác định tạp chất trong nguyên liệu của ta phải là một thứ thực phẩm sạch. Điều quan trọng đầu tiên là tôm phải được nuôi trong môi trường nước sạch, tiếp đến là bảo quản tôm bằng phương pháp phù hợp, không đưa tạp chất vào tôm. Bữa ăn đối với mỗi người là lúc người ta hưởng thụ thành quả lao động của mình có nghĩa nhất và đầy sự hào hứng. Sự ngon lành của thức ăn ngày nay không đơn thuần chỉ còn đánh giá qua chỉ tiêu hàm lượng chất bổ dưỡng, mà còn qua các chỉ tiêu đảm bảo là chúng không bị ô nhiễm các chất độc hại do môi trường bị ô nhiễm.
Như vậy, chúng ta hãy giữ cho môi trường sống trong sạch, trạng thái cân bằng tự nhiên được đảm bảo bền vững, chúng ta sẽ được: ở sạch, ăn sạch và uống sạch. “Có sức khoẻ, sẽ có tất cả” đó là mơ ước của mọi người, nó cũng đặt ra cho mọi người trách nhiệm trước sự ô nhiễm môi trường đang trầm trọng hiện nay.
Ở trong ngôi nhà khang trang, ăn bữa ăn đầy hứng khởi, ta cũng đừng quên chuẩn bị cho mình thứ nước sạch để uống sau bữa ăn, cho nấu bữa ăn sau và nước dự trữ cho những tháng năm trước mắt.








