Sự hình thành tư duy phát triển đô thị hiện đại
Người đi tiên phong đề xướng Chủ nghĩa Hiện đại là Le Corbusier (1887 - 1965). Ông này đề cao tính “hợp lý” phải có của đô thị thời đại công nghiệp, với hình học là nền tảng và chủ nghĩa công năng là chủ đạo.
Sự thành lập “Đại hội quốc tế kiến trúc hiện đại” (CIAM) năm 1928 và Hiến chương Athènes (1933) đánh dấu sự toàn thắng của Chủ nghĩa Hiện đại. Hiến chương này chia đô thị thành 3 khu chức năng: cư trú, công nghiệp và nghỉ ngơi giải trí, kết nối với nhau bằng các đại xa lộ.
Các luận điểm quen thuộc của Chủ nghĩa Hiện đại là:
- Hình thức vĩnh viễn đi theo công năng (form ever follows function);
- Nhà ở là cỗ máy để cư trú (the house is a machine for living in);
- Trang trí là đồ bỏ đi (orament is excrement);
- Ít đi chính là nhiều hơn (less in more).
Do hầu hết các đô thị đã được xây dựng theo đô thị học cổ điển rồi, nên Chủ nghĩa Hiện đại chỉ có thể phát huy hiệu lực tại các khu nhà mới xây ở ngoại thành, tại một số thành phố của Liên Xô, và nhất là trong giai đoạn khôi phục các đô thị Châu Âu bị phá huỷ trong thế chiến thứ II. Đô thị thể hiện toàn vẹn Chủ nghĩa Hiện đại là Brasilia, thủ đô hành chính mới của Brazin (ảnh), xây dựng hoàn toàn mới trên đất trống, với khu chức năng đô thị rạch ròi; công sở Chính phủ và Quốc hội hùng vĩ mang tính tượng đài; đại xa lộ khổng lồ dài 30 km, rộng 160 m; toàn thành phố được hình thành bởi mấy chục tiểu khu nhà ở 6 - 8 tầng lắp ghép trên bãi cỏ; không có phố xá và trung tâm thương mại…
Chủ nghĩa Hiện đại có ảnh hưởng rất lớn tới Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, vì rất phù hợp với phát triển đô thị trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Dần dà trong nội bộ CIAM xuất hiện một nhóm bất đồng quan điểm, gọi là Team 10, dẫn đến sự giải thể của CIAM năm 1959. Tiếp đó, nữ nhà báo Mỹ Jane Jacobs viết cuốn sách nổi tiếng “Cuộc sống và cái chết của các thành phố lớn của Mỹ” (1961), mở đầu cho việc đánh giá lại Chủ nghĩa Hiện đại. Các cuộc phê phán kéo dài trong các thập kỷ 60 và 70 thế kỷ trước đã vạch ra 8 “sai lầm” của Chủ nghĩa Hiện đại:
1. Phân khu chức năng quá mức, làm người dân đô thị suốt ngày phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, tiêu hao nhiều nhân lực, vật lực và tài lực;
2. Đô thị trở nên đơn điệu với các khu “cao ốc trong công viên” (Tower in a Park), bị chia cắt thành từng mảnh bởi các đại xa lộ, làm cho con người dễ buồn chán và xa lạ với nơi mình ở;
3. Công năng đô thị yếu kém, đời sống thị dân gặp nhiều bất tiện, khiến nhiều người tự phát toả ra ngoại thành xây chỗ ở lộn xộn, tạo thành các vòi bạch tuộc (tạm dịch từ sprawl) theo các tuyến đường ngoại thành;
4. Công trình kiến trúc được sản xuất hàng loạt theo Chủ nghĩa Ford trong sản xuất ô tô với nhà lắp ghép, nhà khối hộp… cùng các đại xa lộ và quảng trường đô thị rộng mênh mông.
5. Truyền thống lịch sử và văn hoá bị xem nhẹ; chủ trương triệt hạ các khu đô thị cũ đường sá chật hẹp, nhà cửa tối tăm để xây dựng đô thị mới (Slum clearance. Lời của Le Corbusier: we must build on a clear site);
6. Khuyến khích xây dựng các kiến trúc vĩ đại mang tính tượng đài, thoát ly môi trường chung quanh và xa rời tầm vóc của con người;
7. Các khu nhà ở giống nhau kiểu trại lính, thiếu công năng hỗn hợp, đi lại dựa vào xe hơi, không thân thiện với người đi bộ;
8. Tổ chức giao thông theo dạng đường phố trục chính và các đường nhánh thu gom, tạo ra tắc nghẽn giao thông.
Trào lưu tư duy mới tập trung trước tiên vào việc cải thiện điều kiện cư trú và tổ chức lại giao thông đô thị để khắc phục sự tắc nghẽn. Kết quả thực tiễn đầu tiên là thành phố St. Louis (Mỹ) dỡ bỏ 33 toà nhà 11 tầng gồm 2870 căn hộ của tổ hợp nhà ở Pruist - Igoe năm 1972, rồi đến việc thành lập tổ chức Nghị trình về tính Cơ động Mới (The New Mobility Agenda) tại Paris năm 1974 … tiếp theo đó, từ giữa thập kỷ 90 xuất hiện phong trào “Tăng trưởng thông minh” (Smart Growth) nhằm chống lại hiện tượng vòi bạch tuộc (sprawl), nhấn mạnh đến cư trú tốt (livability), sử dụng hiệu quả đất đai và công trình hạ tầng hiện có của đô thị.
Các tư duy mới trong đô thị học dần dần hội tụ thành lý luận hoàn chỉnh gọi là Đô thị học Mới (New Urbanism) lần đầu tiên được phát biểu dưới dạng Các nguyên tắc Ahwahnee, do một nhóm kiến trúc sư gồm Peter Calthorpe, Michel Corbett, Andrés Duany .. khởi thảo và được công bố năm 1991 tại khách sạn Ahwhnee ở California . Tiếp đó họ thành lập Đại hội Đô thị học Mới ( Congress for the New Urbanism - CNU) năm 1993, đến Đại hội năm 1996 ở Charleston thì thông qua Hiến chương Đô thị học Mới (Charter of the New Urbanism). Năm 2007 Đại hội lần thứ 17 họp ở Philadelphia .
Đô thị học Mới lan sang châu Âu, dẫn đến việc thành lập Hội đồng Đô thị học Châu Âu (Council for European Urbanism - CEU). Năm 2003 tổ chức này họp ở Stockholm và thông qua Hiến chương Đô thị học Châu Âu (Charter for European Urbanism). Trước đó ít lâu, ở châu Âu đã có phong trào phục hưng Đô thị (Urban Renaissance) khởi đầu với việc xây dựng đô thị mới Poundbury ở Anh do Leon Krier lập Quy hoạch tổng thể cho giai đoạn 1988 - 2007.
Ở châu Úc cũng hình thành Hội đồng Đô thị học Mới châu Úc (Australia Council for New Urbanism - ACNU) có quan hệ mật thiết với các tổ chức tương tự ở Mỹ và châu Âu.
Đô thị học Mới ở châu Á cũng bắt đầu được quan tâm, nhờ các hoạt động rất tích cực của Christopher Charles Benninger tại Trường Quy hoạch ( Schoolof Planning) ở Ahmedabad (Ấn Độ). Ông này trong cuốn sách “Các Nguyên tắc của Đô thị học Thông minh” (Principles of Intelligent Urbanism - PIU) xuất bản năm 2001, đề xuất 10 nguyên tắc PIU là: 1. Cân bằng với thiên nhiên (A balance with Nature); 2. Cân bằng với Truyền thống; 3. Công nghệ thích hợp (Appropriate Technology); 4. Thân thiện hiếu khách (Conviviality); 5. Tính hiệu quả (Efficiency); 6. Tầm vóc con người ( (Human Scale); 7. Ma trận cơ hội (Opportunity Matrix); 8. Hội nhập vùng (Regional Integration); 9. Sự di chuyển cân bằng (Balanced Movement) và 10. Trung thực về thể chế (Institutional Integrity).
Các Nguyên tắc Đô thị học Thông minh được Benninger vận dụng vào Đồ án Kết cấu Thimphu 2002 - 2007 (Thimphu Structural Plan), được Bộ trưởng Văn hoá Bhutan báo cáo tại hội thảo quốc tế cuối năm 2007 ở Bangkok.
Tại Trung Quốc, Đô thị học Mới lần đầu tiên được giới thiệu trong cuốn sách “Xã khu mới và Thành Thị mới” của Dương Đức Chiêu (2006).
Đô thị học Mới cũng bắt đầu tác động đến nước ta thông qua một số Dự án ODA về Nâng cấp đô thị, Quy hoạch đô thị, Chiến lược phát triển đô thị và các dự án hợp tác song phương giữa các trường, viện trong và ngoài nước.
Tóm lại, trong khoảng 20 năm qua Đô thị học Mới đã phát triển mạnh mẽ, lan truyền nhanh chóng và đạt được một số thành tựu, thể hiện trong các xã khu (Neighbourhoods) do Duany và Peter – Zybeck thiết kế, các thiết kế xã khu truyền thống (Traditional Neighbourhood Design – TND) của Peter Calthorp, xã khu hỗn hợp mật độ cao định hướng quá cảnh (Transit Oriented Development – TOD), các làng đô thị (Urban Villages)… Tiêu biểu nhất cho Đô thị học Mới là sự triệt để thay da đổi thịt củ Thành phố Vancouver để trở thành “Đô thị hôm nay của ngày mai” nhờ thực hiện Đồ án Đô thị (City Plan) từ 1995 đến nay, được đánh giá là thành phố của các xã khu (a city of neighbourhoods), trong đó người dân mọi lứa tuổi và mọi nền văn hoá đều có chung cảm nhận cộng đồng (sense of community).
Cùng với Đô thị học Mới đã hình thành những môn học mới như thiết kế đô thị (Urban Design), đô thị học cảnh quan (Landscape Urbanism), và nhiều khái niệm mới như làng đô thị, nông nghiệp đô thị (Urbanism Agriculture), chất lượng cuộc sống (Quality of life), đô thị nén (Compact city)…
Mười nguyên tắc sau đây của Đô thị học Mới có thể áp dụng cho dự án công trình đơn chiếc hoặc của cả một xã khu:
1.Tiện đi bộ (walkability); 2. Kết nối giao thông (Connectivity); 3. Sử dụng hỗn hợp và sự đa dạng (Mixed Use & Diversity) của công trình phục vụ hướng đến mọi lớp người; 4. Nhà ở hỗn hợp (Mixed housing) với các kiểu dáng, quy cách và giá cả khác nhau; 5. Chất lượng của kiến thức và thiết kế đô thị; 6. Cơ cấu xã khu truyền thống; 7. Mật độ tăng cao (increased Density); 8. Giao thông thông minh (Smart Transportation); 9. Sự bền vững (Sustainability); 10. Chất lượng cuộc sống.
Gần như cùng lúc với sự hình thành và phát triển của Đô thị học Mới, UNDP, UNHCR và WB đưa ra Chương trình Quản lý đô thị (UMP) với ba giai đoạn 5 năm, từ 1986 đến 2001, để nhận dạng và đề ra giải pháp cho các vấn đề của đô thị, chủ yếu là đô thị các nước đang phát triển nhằm đón đầu các thách thức khi quá nửa nhân loại vào sống trong đô thị. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm hay, Chương trình khởi xướng Chiến lược Phát triển Đô thị(CDS) hướng tới Đô thị bền vững với 4 độ đo (dimension) là cư trú tốt(livability) , sức cạnh tranh(competitiveness), trị lý giỏi(good governace) và tài chính lành mạnh(bankability). Nhiều luận điểm của Đô thị học Mới đã được đưa vào Chiến lược này, nhất là về cư trú tốt.
Nguồn: Người xây dựng, 3 - 2008, tr 3







