Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/04/2010 23:26 (GMT+7)

Sự ấm lên toàn cầu và vấn đề phát thải khí CO2

Sự ấm lên toàn cầu

Ấm lên toàn cầu (global warming) là một khái niệm quốc tế được đưa ra cùng với định nghĩa về cách đo nhiệt độ toàn cầu. Từ lâu, nhiều quốc gia đã xây dựng các trạm đo nhiệt độ khí quyển. Các trạm đo này được bố trí ở nhiều địa điểm khác nhau tại mỗi nước, phục vụ công việc dự báo thời tiết, thu thập số liệu về khí tượng thuỷ văn... Các trạm đo đo được nhiệt độ của không khí ở mặt đất vào các thời điểm khác nhau: Sáng, trưa, chiều, tối (nhiệt độ cao nhất, thấp nhất) vào từng ngày, tháng, năm... Từ đó, người ta tổng hợp thành dữ liệu về nhiệt độ của một vùng, miền, hoặc của cả một nước. Sau này, có nhiều tổ chức (trong đó có Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC - Intergovernmental Panel on Climate Change) đã nghiên cứu đưa ra khái niệm và tổ chức đo nhiệt độ trung bình của không khí ở gần mặt đất và đại dương trên toàn trái đất. Để tiến hành công việc này, người ta đã lấy số liệu đo được từ các trạm đo trên mặt đất, các tàu thủy ở đại dương và các số liệu đo được từ vệ tinh. Người ta cố gắng để các địa điểm lấy số liệu đo nhiệt độ được phủ rộng nhiều nơi trên mặt địa cầu và lấy trung bình theo một chương trình tính toán đặc biệt để kết quả trung bình có ý nghĩa.

Thực tế là, từ năm 1979 trở đi mới có số liệu đo nhiệt độ tương đối đầy đủ bằng vệ tinh và một mạng lưới đo rộng khắp trên đất liền, trên biển. Tuy nhiên, những năm trước đó, với những số liệu thu thập được từ các trạm khí tượng trên mặt đất, mặt biển, người ta cũng đã tính toán được nhiệt độ trung bình theo như cách tính hiện nay và vẽ được biểu đồ thay đổi nhiệt độ trung bình của trái đất từ năm 1880 đến nay. Người ta có thể lấy nhiệt độ trung bình của nhiều năm (ví dụ từ 1961 đến 1980) làm đường nền rồi tính ra sự thay đổi của nhiệt độ từng năm theo đường nền đó. Hình 1 là ví dụ về sự thay đổi nhiệt độ theo năm.

Nhìn vào đồ thị ta thấy, trong một thế kỷ (1900-2000), nhiệt độ trung bình ở mặt địa cầu tăng 0,74±0,180C. Theo IPCC, từ giữa thế kỷ XX, nhiệt độ tăng mạnh là do bắt đầu có hiện tượng hiệu ứng nhà kính - kết quả của việc con người sử dụng nhiều nhiên liệu hoá thạch và phá rừng. Kết luận này đã được hơn 40 tổ chức khoa học uy tín trên thế giới thừa nhận.

Theo tốc độ này, đến năm 2100, nhiệt độ của trái đất có thể tăng từ 1,1 đến 6,4 0C. Việc tăng nhiệt độ của trái đất làm tăng mực nước biển, gây hiện tượng thời tiết bất thường, mùa màng thay đổi, nhiều loài bị tiêu diệt... Theo dự báo, nếu không ngăn chặn các hoạt động làm trái đất ấm lên thì đến năm 2030, ít nhất có 2.000 đảo của Indonesia sẽ biến mất; đến năm 2050, rừng Amazon cũng sẽ không còn và đến năm 2100, mực nước biển lên cao hơn 0,6 m và 2 thành phố (London và New York) sẽ bị nhấn chìm trong nước, chỉ có sa mạc Sahara lại xanh tươi như 12.000 năm trước. Theo dự tính, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng duyên hải miền Trung... của nước ta biển cũng sẽ xâm lấn, đất đai bị co hẹp lại.

Sự phát thải khí CO 2­

Các nhà khoa học phân tích những nguyên nhân làm tăng CO 2trong khí quyển như sau:

Chutrình cacbon

Các nhà khoa học tính toán rằng, khoảng 4,5 tỷ năm trước đây, khi trái đất bắt đầu hình thành, CO 2có thể chiếm đến 80% trong khí quyển. Nhưng cách đây 2 tỷ năm, lượng CO 2chỉ còn khoảng 20-30%. Trong khí quyển còn nhiều CO 2nên sự sống vẫn tồn tại. Cây cối quang hợp rất mạnh làm cho nồng độ CO 2giảm xuống và lượng oxy trong khí quyển tăng lên.

Quá trình quang hợp tạo ra phản ứng: CO 2+ H 2O + năng lượng mặt trời ® O 2+ đường.

Cây cối cũng như động vật khi hít thở tạo ra phản ứng: Đường + O 2® CO 2+ H 2O + năng lượng.

Ngoài ra, khi cây cối và động vật chết, xác chết bị phân huỷ làm cho CO 2thoát ra. Lượng CO 2ra khỏi khí quyển hàng năm được cân bằng với lượng CO 2sinh ra do thở và do phân hủy. Nhờ cơ chế này mà môi trường được ổn định.

Đốt phá rừng

Khi cây cối chết, chúng thải CO 2ra, đó là quá trình bình thường của chu trình cacbon. Nhưng khi cây cối bị đốn chặt để làm chất đốt thì CO2thải ra không khí nhiều hơn, vì thế tốc độ thải CO 2càng gia tăng khi con người gia tăng việc đốn hạ cây xanh làm chất đốt. Nếu cây cối bị đốn hạ để làm vật liệu xây dựng, nhàcửa... mà không đốt thì CO 2không phát thải nhiều, nhưng do thiếu cây xanh nên sự hấp thụ CO 2trong không khí giảm đi và lượng CO 2tăng lên. Theo thống kê của Liênhợp quốc, việc phá rừng mạnh trong 2 thập kỷ 80 và 90 (thế kỷ XX) đã làm cho lượng CO 2trong không khí tăng lên, đồng thời lượng oxy trong không khí giảm đi rõ rệt.

Nhiên liệu hoá thạch

Nguồn CO 2nữa là do lượng cacbon rất lớn đã được lưu trữ từ trước đây. Cacbon trong nhiên liệu hoá thạch được lưu trữ từ hàng triệu năm trước vì cơ thể sống không bị phân hủy hoàn toàn, cacbon không bị phát thải vào khí quyển dưới dạng CO 2, trái lại được lưu trữ trong lòng đất. Trong khi khai thác và đốt nhiên liệu hoá thạch, CO 2mới được phát thải ra nhiều. Như vậy, việc đốt nhiên liệu hoá thạch đã nhanh chóng làm cho cacbon bị giam giữ hàng triệu năm trước phát thải mạnh lượng CO 2. Đây là nguyên nhân lớn nhất làm ô nhiễm bầu không khí.

Sự ấm lên toàn cầu

Các nhà khoa học lý giải rằng, do có nhiều phát thải khí CO 2nên đại dương mới ấm lên. Nhưng có rất nhiều CO 2bị giam giữ trong nguồn nước trên bề mặt đại dương và khi nhiệt độ đại dương tăng lên thì xảy ra hiện tượng giải phóng nhiều CO 2bị giam giữ đó (vì độ hoà tan của CO 2trong nước biển tỷ lệ nghịch với nhiệt độ). Như vậy, khi trái đất ấm lên, lượng CO 2trong nước ở đại dương giảm đi còn lượng CO 2trong không khí trên mặt nước lại tăng lên.

Tóm lại, có nhiều nguyên nhân làm cho lượng CO 2trong không khí tăng lên. Có thể phân biệt được CO 2tăng lên trong khí quyển là từ nguồn gốc nào nhờ cách đo đồng vị phóng xạ. Cacbon có 3 đồng vị: C-12, C-13 và C-14. C-12 có 6 nơtron và 6 proton, là đồng vị cacbon bền vững nhất, còn C-13 có 7 nơtron, C-14 có 8 nơtron. Khi đo tỷ lệ đồng vị cacbon trong CO 2có thể xác định được nguồn gốc của nó. Qua theo dõi, người ta biết được việc dùng xăng dầu, đốt than cho các nhà máy hoạt động phát thải nhiều khí CO 2nhất hiện nay.

CO2 và hiệu ứng nhà kính

Hiệu ứng nhà kính do Jean Baptiste Joseph Fourier (người Pháp) lần đầu tiên đặt tên. Khái niệm này dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia nắngmặt trời xuyên qua cửa sổ (hoặc mái nhà bằng kính) một cách dễ dàng nhưng khi các vật thể trong nhà do hấp thụ bức xạ mặt trời nóng lên thì lại sản xuất ra tia hồng ngoại (mà tia hồng ngoại lại khóxuyên qua kính để ra ngoài). Vì vậy, nhiệt như bị “nhốt” lại ở phía trong khiến cho nhà bị nóng lên.

Các bức xạ của mặt trời đi qua lớp khí quyển đến mặt đất cũng tương tự như vậy. Các bước sóng ngắn xuyên qua khí quyển tương đối dễ dàng đi xuống mặt đất làm nóng những vật thể hấp thụ ánh sáng mặt trời trên mặt đất. Khi nóng lên, các vật thể này lại bức xạ nhưng vì nhiệt độ thấp nên bước sóng của các tia bức xạ này dài, vào cỡ tia hồng ngoại. Khi bức xạ hồng ngoại đi vào khí quyển, nếu trong khí quyển có CO 2thì các phân tử CO 2hấp thụ hồng ngoại rất mạnh (do cấu tạo của phân tử CO 2, tia hồng ngoại kích thích mạnh các dao động nguyên tử trong phân tử CO 2). Vì vậy, tia hồng ngoại (tức là sức nóng) không thoát ra khỏi khí quyển được mà bị nhốt lại, khiến trái đất nóng lên. Như vậy, các phân tử khí CO 2trong khí quyển có tác dụng như là lớp kính ở hiệu ứng nhà kính. Trong khí quyển không phải chỉ có CO 2gây ra hiệu ứng nhà kính mà còn nhiều loại nữa như hơi nước, mê tan, CFC... Tuy nhiên, nếu phát thải ra quá nhiều thì hiệu ứng nhà kính do CO 2gây ra khá lớn, ảnh hưởng mạnh đến sự tăng nhiệt độ trái đất, tức là làm cho nhiệt độ toàn cầu tăng lên. Do đó, muốn giảm thiểu sự ấm lên của toàn cầu cần làm giảm phát thải CO 2.

Trong kỳ tới, chúng ta sẽ tìm hiểu cuộc đấu tranh để giảm sự phát thải khí CO 2trên toàn thế giới mạnh mẽ như thế nào.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.