SpO2 dấu hiệu sinh tồn thứ 5
SpO 2là gì?
Khí oxy rất cần cho sự sống của loài người. Khí oxy có trong khí trời. Khi chúng ta hít thở, oxy sẽ vào phổi. Máu mà thành phần quan trọng nhất của máu là hemoglobine (Hb) sẽ vận chuyển oxy từ phổi đến các nơi cần thiết trong cơ thể để đảm bảo sự sống. Sự vận chuyển đó xảy ra khi Hb kết hợp với oxy thành HbO 2(hemoglobine có gắn oxy).
Tỷ lệ HbO 2/ (HbO 2+Hb) gọi là độ bão hòa oxy trong máu SpO 2, nói cách khác là tỷ lệ phần trăm hemoglobine của máu kết hợp với oxy.
Lịch sử của kỹ thuật khảo sát SpO 2
Năm 1935, với sự phát minh ra thiết bị thô sơ đầu tiên dựa vào 2 bước sóng chính là đỏ và xanh dương đặt ở dái tai dùng để đo SpO 2, Matthes được nhắc đến như người đầu tiên tìm ra phương pháp khảo sát oxy trong máu. Năm 1949, Wood đã phát triển thêm kỹ thuật trên bằng cách đưa vào đó 1 thiết bị có khả năng cảm biến với mạch đập. Nhưng sau đó, kỹ thuật này đã bị đình trệ lại vì lý do kinh phí. Mãi đến khi tập đoàn Nihon Kohden vào cuộc, năm 1972, Aoyagi đã chính thức cho ra đời máy đo oxy dựa vào mạch đập (Pulse oxymetri). Đến năm 1987, máy đo oxy dựa vào mạch đập đã được sử dụng rộng rãi ở các phòng gây mê Mỹ. Vài năm sau, SpO 2trở nên phổ biến khắp thế giới.
Máy đo oxy tại giường đầu tiên sử dụng đầu dò kẹp vào dái tai. Một thiết bị ở một bên của đầu dò phát ra ánh sáng đỏ (660nm) và tím (940nm) xuyên qua dái tai đến thiết bị nhận sáng bên đối diện, tại đây nó sẽ khuếch đại ánh sáng vừa được truyền qua. Mục đích là đo HbO 2ở trong các mao quản nhỏ của dái tai. Tuy nhiên, thiết bị này vấp phải 2 nhược điểm: 1. Sự dẫn truyền ánh sáng qua dái tai bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác ngoài Hb như sắc tố da. 2. Nó không phân biệt được HbO 2nào là của động mạch, HbO 2nào là của tĩnh mạch.
Sự ra đời của máy đo oxy dựa vào mạch đập vào giữa năm 1970 đã loại bỏ những nhược điểm của máy đo oxy trước đây. Điểm đặc biệt của máy đo oxy dựa vào mạch đập là bộ phận tiếp nhận ánh sáng chỉ nhận các sóng ánh sáng có cường độ dao động. Đầu dò của nó sẽ đặt quanh ngón tay. Điều này cho phép máy đo oxy dựa vào mạch đập chỉ phát hiện ra các Hb của động mạch và nó làm giảm hoặc loại bỏ những sai sót tạo nên bởi sự hấp thu ánh sáng của những cấu trúc không có mạch đập như: mô liên kết và tĩnh mạch.
Độ chính xác của SpO 2
Độ bão hòa oxy đo được bằng máy đo oxy dựa vào mạch đập (SpO 2) thấp hơn khoảng 3% so với độ bão hòa oxy thực tế (SaO 2). Thử nghiệm đo SpO 2nhiều lần liên tục trên 1 bệnh nhân ổn định cho thấy kết quả không khác nhau, điều này chứng tỏ SpO 2cho một mức độ đáng tin cậy cao.
Ứng dụng của SpO 2và những lưu ý
Ngộ độc CO
CO là một khí độc, có nhiều khi đốt than. Trong đợt rét đậm vừa qua tại miền Bắc nước ta đã có nhiều nạn nhân ngộ độc khí CO do dùng than tổ ong để sưởi ấm để lại hậu quả nghiêm trọng.
CO thay thế oxy ở vị trí gắn vào sắt trên phân tử Hb, cho nên ngộ độc CO sẽ làm tăng COHb (hemoglobine có gắn carbonmonoxide) và giảm HbO 2. Đương nhiên sẽ làm giảm độ bão hòa oxy trong máu động mạch SaO 2. Tuy nhiên, SpO 2cao hơn SaO 2do sự nhầm lẫn về bước sóng của máy đo oxy dựa vào mạch đập.
Vì vậy, trong ngộ độc CO, SpO 2đo bằng máy đo oxy dựa vào mạch đập không tin tưởng được. Khi đó, cần phải lấy máu động mạch gửi đến phòng xét nghiệm để đo SaO 2và COHb.
Huyết áp thấp
Mặc dù máy đo oxy dựa vào mạch đập dựa trên dòng chảy của máu khi mạch đập, nhưng SpO 2vẫn là một sự phản ánh chính xác của SaO 2khi áp lực mạch máu giảm thấp đến 30mmHg. Mạch mờ dần cũng không ảnh hưởng đến SpO 2đo từ ngón tay.
Trong các tình huống mà có sự giảm sút nghiêm trọng ở tuần hoàn ngoại vi, SpO 2đo ở ngón tay có thể bị nghi ngờ. Lúc bấy giờ, sẽ sử dụng đầu dò dán lên trán. Đầu dò này khác với đầu dò ngón tay vì nó vừa phát ra tia sáng vừa nhận về tia sáng phản xạ từ da (quang phổ kế phản xạ). Đầu dò ở trán đáp ứng nhanh hơn với sự thay đổi SpO 2so với đầu dò ngón tay và có thể nó sẽ dần thay thế các đầu dò truyền thống.
Thiếu máu
Thiếu máu tức là hemoglobine trong máu giảm thấp hơn bình thường. Khi không có giảm oxy máu, máy đo oxy dựa vào mạch đập cho kết quả SpO 2vẫn chính xác khi nồng độ Hb giảm 2-3g/dL. Nếu thiếu máu nghiêm trọng hơn (Hb từ 2,5 - 9 g/dL), SpO 2đo được sẽ thấp hơn SaO 2khoảng 0,5%.
Sắc tố da
Ảnh hưởng của sắc tố da đối với SpO 2khác nhau ở các báo cáo. Ở bệnh nhân da sậm màu, trong một nghiên cứu, SpO 2thấp giả tạo; trong khi đó, ở một nghiên cứu khác, SpO 2cao giả tạo (SpO 2-SaO 2=3,5%) khi SaO 2thấp hơn 70%.
Độ bóng của móng tay cũng ảnh hưởng ít đến SpO 2, khi móng tay sơn màu đen hay nâu SpO 2sẽ thấp hơn 2% so với SaO 2, nhưng ảnh hưởng này có thể được loại bỏ bằng cách mắc đầu dò ở 2 bên của ngón tay.
Yếu tố có ảnh hưởng nhất đến SpO 2đó là xanh methylene. Nó sẽ làm giảm SpO 2đến 65% khi tiêm xanh methylene vào tĩnh mạch. Vì xanh methylene được dùng để chữa bệnh Methemoglobin cho nên không dùng SpO 2cho các bệnh nhân bị bệnh Methemoglobin.
Phát hiện giảm thông khí
Thử nghiệm lâm sàng cho thấy SpO 2là một dấu hiệu nhạy cho việc đánh giá tình trạng thông khí khi bệnh nhân đang thở khí trời nhưng khi bệnh nhân được thở oxy hỗ trợ thì không.
Khi SpO 2(hoặc SaO 2) trên 90%, PaO 2(áp lực riêng phần của oxy trong máu động mạch) trên 60mmHg; đường cong thể hiện sự gia tăng của SpO 2theo PaO 2bắt đầu dẹt, và sau đó sự gia tăng mạnh của PaO 2chỉ ảnh hưởng ít đến sự gia tăng của SpO 2. Thở oxy sẽ đẩy đường cong tăng của SpO 2theo PaO 2càng dẹt hơn (SpO 2luôn trên 98% khi thở oxy), từ đó dù PaO 2có thay đổi lớn đi nữa thì cũng ít ảnh hưởng đến SpO 2.
Có xu hướng sử dụng oxy một cách rộng rãi trong ICU (và đơn vị hồi sức sau gây mê) thậm chí khi SpO 2trên 90%. Bởi vì chưa có tài liệu nào chứng minh lợi ích của việc phải đưa SpO 2lên trên 90%, nên việc cho thở oxy cần được hạn chế khi SpO 2của bệnh nhân đã trên 92% khi thở khí trời. Điều này sẽ tránh được việc ngộ độc oxy và sẽ bảo tồn được độ nhạy của SpO 2trong việc đánh giá thông khí không thích hợp.
Khi nào cần đo SpO 2? Thực ra thì đặt câu hỏi khi nào không sử dụng SpO 2thì có vẻ hợp lý hơn, vì SpO 2giờ đây đã được xem như là dấu hiệu sinh tồn thứ 5 bên cạnh: mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở.
Nguồn: Sức khỏe & Đời sống, 28/6/2008








