Sốt xuất huyết: ngày càng nguy hiểm
Nhiều bệnh cảnh mới xuất hiện
SXH ngày nay đang trở thành một vấn nạn cho sức khoẻ cộng đồng trong vùng nhiệt đới. Tại Việt Nam , từ đầu năm 2007, tình hình SXH gia tăng đột biến với trên 58.000 trường hợp (tăng 505 ca so với 2006) với 54 ca tử vong (tăng 46% so với 2006). TS.BS Trần Tịnh Hiền, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM cho biết, ngoài sự bùng phát về số lượng bệnh nhân, bệnh cảnh lâm sàng cũng có nhiều thay đổi. Đặc biệt là tình hình bệnh trên người lớn (>15 tuổi), gia tăng số lượng và xuất hiện nhiều bệnh cảnh mới.
Tỷ lệ SXH trên người lớn đã tăng cao từ 14% năm 1991 đến 50,1% vào năm 2006. Tỷ lệ bệnh nhân từ các tỉnh phía Bắc khá cao. Một trong những giả thiết là tuổi của bệnh nhân sơ nhiễm có thể đã lớn hơn so với trước đây. Bệnh cảnh lâm sàng của SXH trên người lớn có nhiều khác biệt với trẻ em. Tỷ lệ có sốt là 98 - 100% kèm lạnh run, nhức đầu ở thời điểm nhập viện. Trong khi đó, thời gian sốt kéo dài hơn (sau 7 ngày). Người lớn bị SXH thường có các triệu chứng tiêu hóa khá nổi bật: ói mửa, tiêu chảy, đau bụng. Khoảng 2 - 3% bệnh nhân có xuất hiện vàng da với men gan gia tăng gấp ba trị số bình thường. Người lớn bị SXH nặng có biểu hiện xuất huyết nhiều hơn trẻ em: xuất huyết dưới da (83%), xuất huyết âm đạo ở phụ nữ, chảy máu răng, xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết mũi, xuất huyết não. Hiện tượng đông máu trong nội mạch xuất hiện nhiều so với trẻ em trong trường hợp có sốc và cả không có sốc.
Đặc biệt, có một số bệnh cảnh lâm sàng ít được nêu lên từ các năm trước như viêm cơ tim với triệu chứng của phù phổi cấp như ho, tiết bọt hồng... Một số trường hợp xuất huyết tiêu hóa ồ ạt truyền máu khẩn cấp với lượng lớn (20 - 30 đơn vị trong 24 giờ) ở Sóc Trăng, Quy Nhơn, và TPHCM, nhưng vẫn tử vong. Một số khảo sát ở các quốc gia vùng Đông Nam Á cho thấy biến chứng này có thể liên quan đến các cơ địa có bệnh dạ dày.
Điều trị sốt xuất huyết người lớn: hạn chế truyền dịch
Điều trị SXH ở người lớn có khác biệt với phương thức điều trị cho trẻ em, nhất là trong cách thức sử dụng dịch truyền để chống lại tình trạng sốc. Người lớn bị SXH độ I và II không cần truyền tĩnh mạch nhiều, mà cần phải bù nhiều nước bằng đường uống. Theo TS. BS Trần Tịnh Hiền, xuất huyết da ở người lớn tuy rầm rộ nhưng không chỉ định truyền dịch nếu không có dấu hiệu mất máu. Ngoài ra, chỉ định truyền dịch khi bệnh nhân có dung tích hồng cầu tăng nhanh kết hợp với các dấu hiệu của sốc như: tay chân lạnh, mạch nhanh, tiểu ít, bứt rứt.
Theo thống kê của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, hàng nghìn bệnh nhân SXH đã được điều trị với tỷ lệ phải truyền dịch rất nhỏ dưới 1%. Thậm chí, đối với các bệnh nhân có sốc, bệnh viện cũng đã xử trí như một trường hợp kiệt nước trung bình. Qua khảo sát hồi cứu và tiền cứu của khoa Hồi sức cấp cứu người lớn, lượng dịch truyền trong 6 giờ đầu nên hạn chế hơn so với trẻ em, nhưng không dưới 35ml/kg/6giờ đầu. Với lượng dịch truyền như vậy, giúp bệnh nhân tránh được biến chứng quá tải tuần hoàn, một trong những nguyên nhân dẫn đến tử vong ở người lớn.
Hiện nay, cơ chế thoát huyết tương chưa hoàn toàn được hiểu rõ, do đó chưa kiểm soát được hiện tượng sốc. Nhập viện sớm chỉ có tác dụng là phát hiện sốc và các biến chứng khác sớm nếu được theo dõi hợp lý để can thiệp kịp thời. Trong điều trị SXH, tất cả biện pháp điều trị chỉ là sự hỗ trợ cho sức đề kháng của chính cơ thể bệnh nhân.
Nguồn: Khoa học và Đời sống, số 104 (2031), 29/10/2007, tr 8








