Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 21/08/2008 00:06 (GMT+7)

Sốc nhiễm trùng đường mật do sỏi

Có 59 trường hợp sỏi mật có biến chứng sốc đã được điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy TP. HCM tháng 1/1999 đến 12/2003. Trong đó 20 trường hợp không mổ, 39 được phẫu thuật. Tỷ lệ tử vong chung 44,06% (26 BN). Mổ cấp cứu trước 6 giờ: tử vong 36,84%, mổ cấp cứu trì hoãn: tử vong 23,1%, mổ muộn sau 24 giờ: tử vong 100%. Biến chứng gây tử vong thường gặp là sốc nhiễm trùng nhiễm độc (92,3%) và suy đa cơ quan (69,23%). Các yếu tố tiên lượng năng bao gồm: suy thận, rối loạn đông máu, toan hóa máu và sốc kéo dài sau mổ.

Đặc điểm bệnh nhân

Từ tháng 1/1999 – 12/2003 chúng tôi có 3.614 BN sỏi mật được điều trị, với 1.338 BN nam và 2.276 BN nữ (tỷ lệ nữ/nam là 1,7). Trong đó có 1.861 BN sỏi đường mật và 1.753 BN sỏi túi mật đơn thuần. Như vậy, tỷ lệ nam/nữ vẫn không thay đổi so với trước đây, nhưng tỷ lệ sỏi túi mật tăng lên đến 50%. Các BN trong lô nghiên cứu bao gồm 59 BN sốc NTĐM do sỏi. Tần suất sỏi đường mật có biến chứng sốc nhiễm trùng là 3,17% (59/1.861), giảm hơn so với khoảng 10 năm trước cùng nơi nghiên cứu.

Các BN được chia làm 2 nhóm: nhóm 1 (39 ca) được phẫu thuật; nhóm 2 (20 ca) không can thiệp phẫu thuật. Cả 2 nhóm nghiên cứu đều có hay không có thực hiện PTBD (giải áp đường mật) hoặc ERCP trước mổ.

Có 28 BN sỏi ống mật chủ (OMC) đơn thuần, 7 BN sỏi gan đơn thuần, 6 BN sỏi gan kết hợp sỏi túi mật và 18 BN sỏi OMC kết hợp sỏi gan và sỏi túi mật. Số lần mổ mật trước đây: không có tiền căn 22 BN (37,4%). BN đã có tiền sử mổ mật là 37 BN (63,6%).

Mổ cấp cứu trước 6 giờ khi chưa điều chỉnh đầy đủ các rối loạn chức năng các cơ quan gây ra do sốc nhiễm độc thì tỷ lệ tử vong đến 36,84%. Trong khi mổ cấp cứu có trì hoạn cho tỷ lệ thành công cao hơn (tử vong chỉ 23,1%). Tuy nhiên, một cuộc phẫu thuật muộn sau 24 giờ cho kết quả xấu nhất (tử vong 100%). Do đó, không nên quá dựa vào PTBD để chỉ định mổ muộn khi tình trạng sốc kéo dài trên 24 giờ dù có hay không có sử dụng thuốc vận mạch.

Các phương pháp và kết quả điều trị

Chúng tôi có 2 nhóm bệnh: nhóm không mổ 20 BN, nhóm có mổ 39 BN.

Điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa đơn thuần khi sốc kéo dài trên 24 giờ có 5 BN (25%), tỷ lệ tử vong 100%, cho thấy khi BN sốc kéo dài trên 24 giờ điều trị nội khoa đơn thuần không mang lại hiệu quả. Điều trị nội khoa có PTBD gồm 9 BN (45%), tử vong 4 BN (44,44%), cho thấy khi có hỗ trợ giải áp đường mật hiệu quả thì kết quả điều trị được cải thiện rõ rệt. Chúng tôi có 4 BN có sỏi OMC được hồi sức nội khoa có đáp ứng sớm, bỏ được vận mạch trong 24 giờ đầu và trong những ngày sau, khi tình trạng bệnh nhân hoàn toàn ổn định, sỏi được lấy qua ERCP thành công. Có 2 BN sỏi OMC đơn thuần khác có PTBD kết hợp hồi sức nội khoa cũng ra sốc sớm và lấy sỏi thành công qua ERCP. Đây cũng chính là cách chọn lựa hợp lý nhất cho điều trị khi bệnh nhân có đáp ứng sớm với hồi sức nội khoa và có sỏi OMC đơn thuần.

Điều trị phẫu thuật

tán sỏi

Tán sỏi

Phẫu thuật đơn thuần có 29 BN (74,35%), tử vong 13 BN (44,82%); có PTBD trước mổ là 8 BN (20,51), tử vong 4 BN (50%). Điều này không có nghĩa PTBD không có giá trị khi có phẫu thuật mà chúngtôi nhận thấy PTBD thường được thực hiện với BN có chỉ định mổ, nhưng không mổ ngay được vì tình trạng sốc nặng hay có rối loạn nặng nhiều cơ quan, vì vậy kết quả không đồng nhất cho tiêu chuẩn chọnbệnh. Có 2 BN có sỏi OMC và sỏi túi mật trong tình trạng nặng nên chỉ được lấy sỏi túi mật và dẫn lưu túi mật, hậu phẫu ổn định và được lấy sỏi sau mổ 2 tuần qua ERCP thành công.

Khi BN trong tình trạng sốc kéo dài trên 24 giờ không nên kéo dài điều trị nội khoa đơn thuần. PTBD chỉ hỗ trợ cho hồi sức nội khoa chứ không phải là một phương pháp điều trị sốc NTĐM do sỏi.

Nếu hồi sức nội khoa thành công chúng ta có thể lấy sỏi OMC đơn thuần qua ERCP mà không cần phải mổ. PTBD chỉ sử dụng trong những trường hợp đã có chỉ định mổ nhưng tình trạng quá nặng không mang lại kết quả khả quan.

Năm 1990, Hoàng Tiến nghiên cứu 107 trường hợp sốc nhiễm trùng đường mật đã làm luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú “Tình hình điều trị sỏi mật có biến chứng sốc tại Bệnh viện Chợ Rẫy 1986 – 1990”, tử vong chung là 41%, tử vong của nhóm có mổ là 27,6%, của nhóm không mổ là 100%. Năm 1992, với 174 bệnh nhân sốc nhiễm trùng đường mật, Đỗ Kim Sơn có kết quả như sau: không mổ thì tử vong 94% (33/35), mổ cấp cứu ngay tử vong 80% (29/36), mổ cấp cứu muộn tử vong (43% (43/103).

Các yếu tố tiên lượng nặng

Chúng tôi nhận thấy biến chứng gây tử vong thường gặp nhất: sốc nhiễm trùng nhiễm độc 24 BN (92,3%), suy đa cơ quan 18 BN (69,23%). Các biến chứng đơn độc hoặc phối hợp làm cho tình trạng bệnh lý càng nặng nề hơn.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thụ cũng nêu ba điểm: Trong sốc nhiễm trùng đường mật tỷ lệ tử vong rất cao, công tác hồi sức rất quan trọng nhất là khi có suy thận, phải dùng kháng sinh có tác dụng đối với vi khuẩn gram âm.

Qua nghiên cứu việc điều trị sốc nhiễm trùng đường mật do sỏi, để làm giảm tỷ lệ tử vong, chúng tôi có một số nhận xét như sau: khi chưa có tình trạng viêm phúc mạc và thấm mật phúc mạc, vấn đề quan trọng là việc hồi sức trong vòng 6 – 24 giờ để điều chỉnh các rối loạn những cơ quan do sốc nhiễm độc gây ra, điều này sẽ giúp giảm tỷ lệ tử vong. Hồi sức nội khoa nên lưu ý đến các vấn đề: điều chỉnh toan hóa máu, rối loạn đông máu, điều chỉnh suy thận. Đưa bệnh nhân ra sốc sớm trước 24 giờ sau mổ. Đặc biệt là nên có sự hỗ trợ của PTBD sớm ngay khi bắt đầu hồi sức nội khoa thì tỷ lệ thành công của việc hồi sức sẽ cao hơn. Tuy nhiên không nên quá phụ thuộc vào PTBD khi tình trạng sốc kéo dài trên 24 giờ mà nên nghiêng về hướng chỉ định phẫu thuật, dù là phẫu thuật tối thiểu, mới có cơ may cứu sống bệnh nhân.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.