Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/04/2010 23:25 (GMT+7)

So sánh các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn kết nối các máy phát phân tán (DG) với hệ thống phân phối điện

Các tiêu chuẩn hướng dẫn kết nối DG với lưới điện hiện vẫn đang là đề tài gây tranh cãi khi nghiên cứu. Sự đa dạng của các tiêu chuẩn của mỗi Quốc gia cũng làm cho vấn đề này phức tạp hơn. Do đó rất cần thiết có một tiêu chuẩn chung cho các nhà sản xuất, những người vận hành hệ thống điện để phù hợp với các điều kiện cụ thể và của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Sự tiêu chuẩn hoá sẽ giúp cho các công nghệ DG phát triển mạnh trong thị trường điện, giảm bớt các chi phí trong sản xuất và vận hành hệ thống điện.

Tiêu chuẩn đầu tiên được đưa ra là phiên bản IEEE 1547, đưa ra các tiêu chuẩn và yêu cầu có liên quan đến lắp đặt, vận hành, kiểm tra, điều kiện an toàn…của máy phát phân tán kết nối lưới. Tuy nhiên tiêu chuẩn này tập trung vào hệ thống điện có tần số 60 Hz (Mỹ). Khi ứng dụng vào hệ thống có tần số 50 Hz đã xuất hiện những điểm không phù hợp [1, 2]. Các Quốc gia Châu Âu cũng phát triển nhiều tiêu chuẩn liên quan đến các máy phát DG riêng lẻ. Có một số tiêu chuẩn liên quan đến các máy phát đơn lẻ: tuabin gió, pin quang điên, Pin nhiên liệu…Các tiêu chuẩn này có thể được coi như một nguyên tắc chỉ đạo hướng dẫn kết nối DG với lưới điện.

Với mục đích đánh giá và tạo điều kiện tham khảo cho Việt nam khi kết nối DG vào các hệ thống cung cấp điện, chúng tôi xin trình bày tổng quan về các tiêu chuẩn kết nối DG với hệ thống cung cấp điện của một số nước và tiêu chuẩn của IEEE.

1.So sánh tiêu chuẩn kết nối và yêu cầu kỹ thuật.

1.1        Công suất đặt cực đại của DG (Maximum DG power installation)

Khả năng tải của máy biến áp, cáp, dây dẫn, thiết bị chuyển mạch được sử dụng để xác định mức công suất cực đại của DG mà có thể lắp đặt. Ví dụ ở Bỉ, công suất thiết kế của DG phải nhỏ hơn khả năng của máy biến áp MV/LV hoặc HV/MV và phù hợp với tiêu chuẩn (n-1). Ở Italia, yêu cầu công suất lắp đặt của DG phải nhỏ hơn 65% trong mạng trung áp và hạ áp; trong khi đó ở Tây Ban Nha yêu cầu nhỏ hơn 50% công suất máy biến áp. Đôi khi công suất lắp đặt còn yêu cầu xem xét đến giới hạn phát nhiệt của hệ thống, lúc này công suất toàn phần được sử dụng để kiểm tra sự phù hợp của DG với hệ thống. Giới hạn công suất ngắn mạch được sử dụng như một tiêu chuẩn. Công suất ngắn mạch của mạng điện được DG bổ sung thêm không được vượt quá khả năng của các thiết bị chuyển mạch. Cấp điện áp cũng được xác định như một tiêu chuẩn để xác định công suất đặt cực đại của máy phát DG.

1.2        Cấp điện áp kết nối DG (Voltage levels of DG connection)

Do công suất phát hạn chế, DG thường được kết nối với mạng trung áp và hạ áp. Tuy nhiên không có mức giới hạn điện áp cực đại khi kết nối DG. Cấp điện áp được sử dụng như là một yêu cầu cho phối hợp bảo vệ và mức công suất danh định, điểm kết nối. Trong trường hợp kết nối với lưới trung áp, máy biến áp có thể được yêu cầu làm nhiệm vụ bảo vệ DG bởi việc hấp thụ công suất phản kháng, ngăn ngừa dòng thứ tự không và hạn chế dòng ngắn mạch.

1.3        Chất lượng điện năng (Power quality)

- Sóng hài (Harmonic)

Bậc của sóng hài sinh ra bởi DG không gây nhiễu loạn trong hệ thống phân phối. Tổng độ méo toàn phần (Total Harmonic Distortion - THD) được yêu cầu nhỏ hơn 5%. Theo IEEE 519-1992 đã yêu cầu các giá trị khác nhau của sóng hài và tổng độ méo toàn phần (bảng 1).

Các máy phát DG sử dụng các bộ điện tử công suất, là nguồn phát sinh sóng hài. Kiểu máy phát phụ thuộc vào công nghệ bộ biến đổi điện tử công suất và cấu trúc của chúng. Các máy điện quay cũng là nguồn gây ra sóng hài, phụ thuộc vào cấu trúc bộ dây quấn, mạch từ…chúng cũng làm thay đổi độ méo toàn phần (THD) của mạng điện. Trong trường hợp có hài bậc ba, chúng sẽ theo dây trung tính xuống đất. Theo tiêu chuẩn Việt Nam giá trị cực đại cho phép (theo % điện áp danh định) của THD điện áp gây ra bởi các thành phần sóng hài bậc cao đối với các cấp điện áp được quy định trong bảng 2.

< 11 th

4,0%

< 11 thđến < 17 th

2,0%

< 17 thđến 23 th

1,5%

< 23 thđến 35 th th

0,6%

< 35 thhoặc cao hơn

0,3%

Tổng (THD)

5,0%

Cấp điện áp

Tổng biến dạng (THD)

110,220, 500kV

3,0

Trung áp

6,5

Bảng 1: Giới hạn dòng hài theo IEEE 519-192.

Bảng 2: Độ biến dạng điện áp do sóng hài.

- Chập chờn (Flicker)

Hiện tượng chập chờn là kết quả của việc biến đổi công suất ở đầu ra của máy phát: tuabin gió, pin mặt trời…hoặc có sự biến đổi của các phụ tải: lò hồ quang, các động cơ không đồng bộ…dẫn tới thay đổi điện áp trên các nhánh của đường dây. Để hạn chế hiện tượng chập chờn, nhiều nước đã đưa ra yêu cầu công suất lắp đặt cực đại của DG phải nhỏ hơn vài lần công suất ngắn mạch tại điểm kết nối chung. Tiêu chuẩn IEC 6140-21 cũng đưa ra yêu cầu về chất lượng điện năng cho những tuabin gió nối lưới, trong đó giới hạn nhấp nháy của môt tuabin gió đơn lẻ là P lt= 0,25 được tính từ 12 kết quả đo P stliên tiếp (sau khoảng thời gian 2 giờ). Tổng giá trị chập chờn của một trang trại gió không vượt quá 0,5 tại một nút bất kỳ trong mạng điện.

-Hệ số công suất (Power factor)

Hầu hết các máy phát phân tán đều vận hành với hệ số công suất đồng nhất. Trong vận hành thường yêu cầu các máy phát này đặt các bộ tụ bù. Việc lắp đặt tụ bù được thực hiện ngay tại máy phát. Tiêu chuẩn kỹ thuật của Pháp thì yêu cầu các máy phát phân tán công suất lớn (trường hợp này là các máy phát đồng bộ) có khả năng cung cấp và hấp thụ công suất phản kháng đến một giá trị nào đó. Đối với các máy phát không đồng bộ, các bộ kích từ độc lập và thiết bị bù được sử dụng như những tụ điện.

Máy phát phân tán đồng bộ thích hợp cho việc duy trì hệ số công suất để điều khiển điện áp tại điểm kết nối chung (PCC) . Đối với máy phát không đồng bộ yêu cầu cao hơn 0,86. Ở Việt Nam có quy định các tổ máy phát điện không đồng bộ phải được trang bị các tụ bù ngang để đảm bảo hệ số công suất 0,90.

- Dòng điện một chiều (Direct Current)

Dòng điện một chiều DC đưa vào lưới điện bởi các máy phát phân tán là một vấn đề khá được quan tâm. Việc xuất hiện dòng điện một chiều làm tăng thêm sự bão hoà các thành phần từ hoá của lõi thép các máy biến áp. Theo IEEE 1547, dòng điện một chiều đưa vào lưới từ các máy phát DG phải nhỏ hơn 0,5% dòng định mức của máy phát tại điểm kết nối. Theo quy định của Bỉ thì giá trị dòng một chiều đưa vào lưới phải nhỏ hơn 1,0% dòng định mức; nếu cao hơn 1,0% thì phải được loại trừ sau 2 giây.

- Bảo vệ (Protection)

Hầu hết đều chưa có các tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật cho các máy phát làm việc độc lập. Các máy phát DG đều phải tách lưới khi lưới điện chính không cung cấp năng lượng hoặc khi có sự cố năng nề. Khi giá trị điện áp và tần số vượt ra khỏi phạm vi cho phép như bảng 3, các máy phát DG đều được yêu cầu ngừng hoạt động trong khoảng thời gian hồi phục sự cố. Tiêu chuẩn IEEE 1547 xem xét các máy phát DG công suất nhỏ có ít tác động đến hệ thống. Tuy nhiên những máy phát có công suất trên 30 kW có thể sẽ có những tác động đáng kể đến hệ thống phân phối, yêu cầu này được tính đến bởi vì cho phép người vận hành thiết lập và chỉnh định rơle tần số thấp.

Bảng 3: Cài đặt giá trị bảo vệ của máy phát DG.

Cấp điện áp

Bỉ

IEE 1547

Pháp

Hạ áp

Điện áp

U > 1.06 pu: cắt tức thời.

U < 0.5 - 0.85 pu: cắt sau 1.5s.

Tần số:

f< 49.5 Hz hoặc f> 50.5 Hz: cắt tức thời

Điện áp

U < 0.5: cắt sau 0.16 s.

0.5<U<0.88 pu: cắt sau 2.0s.

1.1<U<1.2: cắt sau 1,0s

U > 1.2 pu: cắt sau 0.16s.

Tần số:

Với máy phát < 30 kW

f> 60.5 Hz: cắt sau 0.16 s.

f< 59.3 Hz: cắt sau 0.16 s.

Máy phát > 30 kW

f> 60.5 Hz: cắt sau 0.16 s.

(59.8 - 57) Hz: cắt sau (0.16 - 300) s.

f< 57 Hz: cắt sau 0.16 s

Điện áp

U < 0.85 pu hoặc > 1.15 pu: cắt tức thời.

Tần số:

f< 47.5 Hz hoặc f> 51.0 Hz: cắt tức thời

Trung áp

Điện áp

U < 0.25 - 0.5 pu hoặc U>1.1 pu: cắt tức thời.

U < 0.5 - 0.85 pu: cắt sau 1.5s.

Tần số:

f< 49.5 Hz hoặc > 50.5 Hz: cắt tức thời

- Tự động đóng lại (Reclosure)

Việc đóng lại của các máy phát DG, nói chung không được gây ra các tác động độc lập khác. Nếu có sự cố trên lưới truyền tải, các máy phát DG sẽ được yêu cầu cắt ra khỏi lưới. Tiêu chuẩn kỹ thuật của Italia quy định thời gian đóng lại sau 2 giây đối với lưới 150kV; 2,6 giây đối với lưới 220kV và 4 giây đối với lưới 380kV. Tuy nhiên trong khi 70-95% sự cố là thoáng qua, thì việc yêu cầu cắt DG ra khỏi lưới có thể là không thật cần thiết miễn là hệ thống vẫn chịu được các tác động này. Nói chung các DG không bị ảnh hưởng bởi việc tự động đóng lại. Các phản ứng của DG cần được kết hợp với các thiết bị bảo vệ độc lập để ngăn ngừa những hư hại có thể ảnh hưởng tới các hệ thống khác. Trong tiêu chuẩn IEEE 1547, máy phát DG sẽ ngừng cung cấp điện khi tự đóng lại đã khôi phục trở lại bởi hệ thống. Yêu cầu này được đưa ra nhằm ngăn ngừa sự mất đồng bộ trong khoảng thời gian đóng lại, ảnh hưởng tới thiết bị bảo vệ quá dòng hoặc để tránh hư hại tới các máy biến áp, động cơ và DG. Ở Đức, thời gian tác động của bảo vệ ngắn hơn so với tự đóng lại. Ở Tây Ban Nha, các máy phát DG được đấu nối trở lại nếu điện áp tại điểm kết nối chung PCC không nhỏ hơn 0,85 p.u và thời gian t > 3 phút.

2 . Hoà đồng bộ (synchronization)

Việc đấu nối phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến chế độ vận hành của mạng điện. Để có thể hoà đồng bộ DG với lưới điện, điện áp ra của DG và điện áp vào của lưới phải có cùng điện áp, tần số, thứ tự pha và góc pha. Nếu hội tụ đủ những điều kiện này DG có thể được đưa vào để hoà đồng bô với lưới với mức điện áp dao động nằm trong phạm vi±5% tại PCC. DG có thể được kết nối với lưới thông qua các bộ nghịch lưu với mức điều khiển tăng dần từ mức không tải lên đến đầy tải. Bộ nghịch lưu có thể được bố trí theo dãy hoặc song song. Việc hoà đồng bộ qua bộ nghịch lưu dãy chỉ có yêu cầu duy nhất về điện áp, trong khi tần số và góc pha được thiết lập trong thời gian kết nối thì việc hoà đồng bộ của các bộ nghịch lưu song song có yêu cầu tương tự như bất kỳ một hoạt động hoà đồng bộ khác: điện áp, góc pha, tần số [6]. Trong bảng 4, 5 trình bày các điều kiện cần thiết để hoà đồng bộ các máy phát đồng bộ và không đồng bộ vào lưới.

Bảng 4: Quy định khi hoà đồng bộ máy phát đồng bộ.

IEEE 1547

Bỉ

Pháp

Máy phát DG loại nhỏ

0 - 500 kVA

D U = ±10%

D f = ±0.3Hz

Dd = ±20%

D U, D f, Dd : phải có giá trị sao cho không gây ra các biến đổi đột ngột nào > 6% điện áp danh định

D U = ±10%

D f = ±0.1Hz

Dd = ±10%

DG loại trung bình

> 500 - 1500 kVA

D U = ±5%

D f = ±0.2Hz

Dd = ±15%

DG loại lớn

> 1500 kVA

D U = ±3%

D f = ±0.1Hz

Dd = ±10%

Bảng 5: Quy định khi hoà đồng bộ máy phát không đồng bộ.

IEEE 1547

Bỉ

Pháp

Mức suy giảm điện áp

£ 5%

£ 6%

£ 5% và không quá 0,5s

Máy phát không đồng bộ thường yêu cầu năng lượng từ phía lưới để duy trì từ trường quay giữa stato và rôto. Nếu không nhận được năng lượng từ bên ngoài, máy phát không đồng bộ không thể phát điện, do vậy nó luôn vận hành song song với lưới, các bộ tụ bù được đặt ngay tại máy phát để cung cấp công suất phản kháng và duy trì hệ số công suất không đổi. Việc kết nối DG với lưới được thực hiện nếu độ suy giảm điện áp không vượt quá giới hạn cho phép.

3.Kết luận.

Bài báo này đã trình bày về các quy định đấu nối DG với lưới theo một số tiêu chuẩn khác nhau. Nói chung các tiêu chuẩn kỹ thuật đều có sự khác nhau, điều đó làm khó khăn và tăng thêm tính phức tạp trong việc triển khai và tiêu chuẩn hoá trên phạm vi toàn cầu. Nếu có một tiêu chuẩn chung cho DG sẽ góp phần nâng cao chất lượng điện năng, đẩy mạnh việc phát triển DG trong các thị trường điện trong tương lai. Ở Việt Nam chúng ta, trong thời gian vừa qua cùng với sự xây dựng nhiều các nhà máy điện truyền thống công suất lớn đã xuất hiện nhiều máy phát phân tán như: thủy điện công suất vừa và nhỏ, điện gió, pin mặt trời, đồng phát côgen . . . Các yêu cầu về kỹ thuật và tiêu chuẩn kết nối các máy phát phân tán với hệ thống điện hiện đang gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy việc nghiên cứu tổng thể các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn kết nối các máy phát phân tán với hệ thống điện ở nước ta để đảm bảo việc xây dựng và vận hành hệ thống điện an toàn, kinh tế là công việc cần thiết.

Tài liệu tham khảo.

[1] IEEE 1547. 2003. Standard for interconnection distributed resources with electric power system.

[2] The NRECA Guide to IEEE 1547. 2006. Application guide for distributed generation interconnection.

[3] CIE/IEC 61400-21, Measurement and assessment of power quality characteristics of grid connected wind turbines, IEC Standard, 2001.

[4] prEN 50438: “Requirements for the connection of micro-cogenerators in parallel with public low-voltage distribution networks,” July 2004 (draft version)

[5] Document C10/11 of the FPE/BFE, “Technical requirements for connection of dispersed generating systems operating in parallel on the distribution network,” Belgium , August 2003

[6] Woyte A., De Brabandere K., Van Dommelen D.M., Belmans R., Nijs J.: "International harmonization of grid connection guidelines: adequate requirements for the prevention of unintentional islanding," Progress in Photovoltaics: Research and Applications, vol. 11, no. 6, IF 1.085, September, 2003; pp. 407-424.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.