Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 12/07/2010 07:00 (GMT+7)

Sản xuất dầu lai - bước đầu của công nghiệp năng lượng sinh học

Các chương trình nghiên cứu nhiên liệu sinh học biomass trên thế giới tập trung vào ba lãnh vực: xử lý sơ bộ - dự trữ - chuyên chở. Quy trình chế biến cellulosics ra éthanol bằng phương pháp hóa sinh học và ra diesel tổng hợp bằng phương pháp Fischer Tropsch. Ưu điểm của nhiên liệu sinh học, so với các năng lượng khác, là dùng được cho các động cơ đốt trong. Nhưng việc sử dụng này đòi hỏi phải thay đổi một số bộ phận của động cơ nếu nhiên liệu pha trộn quá 5% éthanol hay quá 10% biodiesel.

Để giải quyết các vấn đề khan hiếm dầu mỏ và sưởi ấm trái đất, trong tương lai dài hạn, điện sẽ là năng lượng của các phương tiện giao thông; nhưng trong suốt thế kỷ 21 này, thế giới vẫn cần nhiên liệu cung cấp cho các xe động cơ đốt trong; nhiên liệu sinh học có tiềm năng phát triển cao để thay thế một phần xăng dầu. Đây cũng là một cơ hội tốt để phát triển kinh tế ở các nước nằm trong vùng nhiệt đới và không có mỏ dầu.

Những giai đoạn nghiên cứu nhiên liệu sinh học

Nhiên liệu sinh học sẽ tăng từ 1% đến 10% của nhiên liệu tiêu thụ thế giới trong 20 năm tới. Giai đoạn đầu, tới 2015, nhiên liệu sinh học sẽ được sản xuất từ đường, amidon hay dầu có sẵn trong các nguyên liệu sinh học, chủ yếu là các sản phẩm lương thực như mía, ngô, củ cải đường, dầu hướng dương,..., loại này gọi là nhiên liệu sinh học thế hệ 1. Các nhiên liệu này đã được sản xuất ở mức độ công nghiệp nhưng gặp nhiều chống đối vì dùng lương thực để phục vụ giao thông trong khi đó còn hàng triệu người trên thế giới không đủ ăn. Nhưng một số loại cây dầu như dầu lai có thể mọc ở các vùng đất khô hạn và bạc màu đang được phát triển mạnh vì không cạnh tranh với lương thực và có tiềm năng giảm nghèo nhiều vùng ở các nước đang phát triển.

Nhiều nước trên thế giới đang nghiên cứu phát triển các nhiên liệu sản xuất từ cây gỗ (cả thân cây lẫn cành và lá) các phế phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến gỗ và thực phẩm, rác thải của rừng,… loại này gọi là nhiên liệu sinh học thế hệ 2. Theo các kế họach phát triển của châu Âu và Mỹ, các nhiên liệu này sẽ đi vào sản xuất công nghiệp khoảng 2015. Về dài hạn, các tảo biển, có hàm lượng dầu rất cao, có thể dùng để sản xuất biodiesel. Nhiên liệu này gọi là nhiên liệu sinh học thế hệ 3.

Các chương trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật

Hiện nay, các chương trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật trên thế giới tập trung vào ba hướng: phát triển công nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ 1, Việt Nam có chương trình phát triển từ cây dầu lai; nghiên cứu chế biến nhiên liệu sinh học thế hệ 2 và tối ưu ứng dụng nhiên liệu sinh học cho động cơ nhiệt. Nghiên cứu về nhiên liệu sinh học 3 còn giới hạn trong các phòng thí nghiệm.

Sự phát triển công nghiệp chế biến ethanol và biodiesel từ các sản phẩm lương thực và các cây dầu tùy thuộc nhiều vào giá của baril dầu hoặc điều kiện ở mỗi địa phương. Sản xuất ethanol từ mía đã được phát triển tại Brasil từ hơn 30 năm nay với giá thành cạnh tranh được xăng; hiện nay, ethanol chiếm 50% thị trường nhiên liệu Brasil và được xuất sang châu Âu. Vì tình hình căng thẳng trên thế giới và viễn cảnh tăng giá baril dầu, công nghiệp chế biến nhiên liệu từ lương thực được phát triển khắp nơi.

Việt Nam không có điều kiện dùng đất trồng cây lương thực để trồng “cây năng lượng’. Tuy nhiên, cây dầu lai có thể phát triển trên đất đất cằn cỗi của các vùng nhiệt đới, là một giải pháp hợp lý với điều kiện của Việt Nam . Sự thành công của kế hoạch này tùy thuộc nhiều vào hiệu năng của tổ chức phối hợp giữa các khâu của quá trình sản xuất:

- Nắm vững kinh nghiệm và kỹ thuật trồng. Năng suất của 1 hecta dầu lai, sau 5 năm trồng, có thể cho từ 2 tấn hạt mỗi năm đến 12 tấn tùy theo chất phẩm của hạt giống, kỹ thuật trồng và lượng nước tưới; 1 tấn hạt có thể cho từ 2000 đến 3500 lít biodiesel.

- Phối hợp chặt chẽ vốn đầu tư và tổ chức điều hành giữa các khâu của quá trình sản xuất; nhiều nước đã gặp khó khăn vì thiếu máy ép dầu tại chỗ trồng, thiếu phương tiện bảo quản và phương tiện chuyên chở từ nơi trồng đến xưởng chế biến.

- Chương trình phát triển dầu sinh học nằm trong chiến lược năng lượng quốc gia với mục đích chính yếu là bảo đảm nhu cầu năng lượng khi có khủng hoảng dầu khí trên thế giới hoặc giá baril dầu quá cao, thứ yếu là lợi nhuận nhưng có nhiều rủi ro gắn liền với giá baril dầu.

Do đó, để bảo đảm khả năng phát triển của công nghiệp này trước những biến động của thị trường dầu mỏ quốc tế, chương trình này phải là một đầu tư dài hạn quốc gia.

- Xử lý các sản phẩm phụ nhiều protein để làm phân bón hay thức ăn cho gia súc để giảm giá thành biodiesel.

- Định những quy chuẩn về chất phẩm dầu sản xuất và kiểm tra nhiên liệu pha trộn để không có ảnh hưởng lên hiệu năng và tính bền của máy.

Nhưng các hạt dầu lai chứa chất độc “curcine” nên ăn độ 4-5 hạt có thể chết, và cây chứa các “esters phorbol” tỏa ra mùi gây khó chịu cho người thở và có thể ảnh hưởng trên sức khỏe. Hiện tại, những ảnh hưởng của dầu lai trên sức khỏe con người chưa được xác định rõ bởi các nghiên cứu khoa học, nên cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ và chống đối không dựa trên những cơ sở khoa học vững chắc. Một bên dựa vào những trường hợp ngộ độc đã xảy ra và một bên lý luận rằng các cây này đã được trồng làm hàng rào bảo về nhà ở và ruộng vườn từ bao nhiêu đời ở các vùng nhiệt đới. Trong điều kiện hiện tại, chúng ta cần phải cẩn trọng, giới hạn trồng trong các đồn điền và bắt đầu bằng một vài đơn vị thử nghiệm với những biện pháp phòng ngừa thích ứng; đồng thời phải nghiên cứu những ảnh hưởng của jatrophe trên sức khỏe con người và tìm những biện pháp bảo vệ hữu hiệu các công nhân.

Phát triển công nghiệp sản xuất nhiên liệu thế hệ 2

Giá sản xuất các nhiên liệu này còn quá cao so với xăng và diesel vì quá trình chế biến và dây chuyền sản xuất chưa được tối ưu, giá các enzym còn quá đắt. Các chương trình nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ và châu Âu, tập trung vào ba lãnh vực sau đây:

Xử lý sơ bộ - dự trữ - chuyên chở: các kỹ thuật tách rời cellulose với lignine ít tiêu thụ năng lượng và rẻ; các phương pháp “cô đọng năng lượng” để giảm khối lượng chuyên chở biomass tới các xưởng chế biến; các điều kiện dự trữ.

Quy trình chế biến éthanol bằng phương pháp hóa sinh học: tăng hiệu suất kỹ thuật thủy phân lignocellulose bằng enzyme và giảm giá sản xuất enzyme. Mỹ đã đề ra mục tiêu giảm 70% giá enzyme so với giá 2007 và giá sản xuất éthanol xuống tới 0,4 USD/lít năm 2012; kỹ thuật chế biến pentose, từ hémicellulose, ra éthanol.

Quy trình chế biến nhiên liệu tổng hợp Fischer Tropsch còn nhiều khâu kỹ thuật phải được tối ưu trước khi đi vào sản xuất công nghiệp: thủy hóa và khí hóa để chế biến biomass ra khí tổng hợp. Phương pháp Fischer Tropsch, sản xuất biodiesel từ khí tổng hợp, cần phải được tiếp tục nghiên cứu để tăng hiệu suất. Hiện tại, 12 tấn nguyên liệu khô mới cho có khoảng 1,5 – 1,8 tấn biodiesel.

Ứng dụng nhiên liệu sinh học cho động cơ

Ưu điểm của nhiên liệu sinh học, so với các năng lượng khác, là dùng được cho các động cơ đốt trong. Nhưng, bởi sự khác biệt về cấu trúc hóa học, như chứa oxy và các dây chuyền dài hơn, những nhiên liệu sinh học có những đặc tính lý hóa khác so với các nhiên liệu dầu mỏ nên có tác động quan trọng trên các động cơ thiết kế cho xăng và diesel trên những lãnh vực: sự ăn mòn và thoái hoá các vật liệu; quy trình đốt cháy nhiên liệu trong phòng đốt; thủy động lực của các nhiên liệu trong các hệ thống dẫn và phun. Những tác động này không có ảnh hưởng đáng kể trên hiệu năng và điều hành xe nếu nhiên liệu pha trộn không quá 5% ethanol hay 10% biodiesel.

Nếu không thực hiện những sửa đổi thích ứng, hiệu năng và tính bền xe sẽ bị giảm và bảo quản sẽ tốn kém hơn.

Điều hành và hiệu năng: hệ thống phun như máy bơm và vòi phun thích ứng với tỷ khối và độ nhờn: lưu lượng, perte de charge,... Thay đổi tỷ số nén phù hợp với các chỉ số octan và cetan; đổi tỷ số steochiometrie từ 14,4 (xăng) sang 8,95 (ethanol 100%). Các xe flex-fuel đã được thiết kế với một hệ thống điều chỉnh tự động để có thể sử dụng cồn éthanol và xăng. Hiện tại, Brasil có 7 triệu xe flex-fuel. Ở thị trường Mỹ và châu Âu bắt đầu xuất hiện loại xe này.

Vì nhiệt trị thấp, tự trị của xe chạy bằng ethanol chỉ bằng 0,65 tự trị của xe xăng.

Độ bền: vì khả năng oxy hóa và dung môi cao hơn xăng và diesel, cần phải đổi những vật liệu của các hệ thống có tiếp xúc với nhiên liệu như hệ thống dẫn nhiên liệu, phun... và các gioang cao su; nói chung nên tránh sự tiếp xúc với một số vật liệu như đồng, thiết, cao su, polyurethane... Các nhiên liệu sinh học sẽ bị thoái biến nếu tích lũy quá lâu (hơn 6 tháng), đặc biệt nếu độ ẩm hay nhiệt độ cao. Những thay đổi diều kiện điều hành của phòng đốt và nhiệt độ khí thải có ảnh hưởng lên hiệu năng và độ bền của các hệ thống lọc khí thải (bụi dầu, Nox, Co và HC).

Bảo dưỡng: tính ổn định oxy hóa và nhiệt thấp, sức hút nước cao, các nhiên liệu sinh học dễ đóng cặn, đóng cáu trên pítông, xú páp, nên phải làm vidange thường hơn và giới hạn thời gian dự trữ. Sức hấp thụ nước cao của nhiên liệu sinh học có ảnh hưởng trên điều hành máy nếu không được dự trữ theo đúng tiêu chuẩn.

Biodiesel có những tác động tương tự trên động cơ nhưng yếu hơn so với ethanol vì sự khác biệt của các đặc tính như nhiệt trị, chỉ số cetan,... yếu hơn.

Nhiên liệu sinh học sẽ là một trong những năng lượng tương lai của thế kỷ 21. Quy trình phát triển của nhiên liệu này đang bắt đầu từ các sản phẩm lương thực để chuyển qua, khoảng năm 2015, biomass và cuối cùng các tảo bỉển sẽ được dùng làm nguyên liệu chính. Tại các nước vùng nhiệt đới, công nghiệp chế biến biodiesel từ các cây dầu, như cây dầu lai có thể mọc ở các vùng đất cằn cỗi, đang được phát triển mạnh. Các chương trình này có mục đích, một mặt đóng góp khoảng 5-10% nhu cầu năng lượng giao thông và mặt khác xây dựng một cơ sở khoa học kỹ thuật để phát triển nhiên liệu thế hệ 2, từ biomass và thế hệ 3, từ tảo biển.

Sự phát triển nhiên liệu sinh học cũng cần nắm vững những điều kiện ứng dụng trên các động cơ xăng và diesel, để một mặt nắm vững những yêu cầu kỹ thuật của nhiên liệu và mặt khác tránh những hư hỏng của xe hiện tại, chính yếu là những xe dùng xăng và diesel.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.