Sam Sơn nghĩa trủng
Chính cái sự quên ấy đã làm cho người ta tỏ ra hết sức vô tình đối với chủ nhân của nó. Họ là ai? Đó là những người đã vì nước quên thân, vì dân quên đi mạng sống của mình. Họ là những người mà ngày trước đã bao phen tả xung hữu đột, dẹp trừ giặc cỏ xâm lấn bờ cõi, bảo vệ toàn vẹn vùng biên ải Tây Nam Tổ quốc. Và, vì họ là dân lân, dân ấp từ nhiều nơi, chịu lệnh của triều đình đem thân đến phá rừng, bửa đá, đạp bằng chướng ngại, chấp nhận đương đầu với mọi hiểm nguy, quyết đào cho được “sông Châu Đốc”, tức “Kinh Trấn” (trấn Vĩnh Thanh, sau gọi kinh Vĩnh Tế) để “vạch một chân trời” đem lợi lạc muôn đời cho hậu thế; bởi nó không chỉ nhằm phục vụ cho việc trấn giữ ngoài biên mà còn là đường giao thông thủy, tạo nền tảng phát triển nông thương vùng đất mới mở: Châu Đốc tân cương.
Bằng vào chính cơ bắp và khối óc của mình, hơn 8 vạn lượt người, bao gồm cả người Việt, người Khmer đã hợp sức, chia ra thành nhiều phiên, tưới xuống không biết bao nhiêu là mồ hôi, nước mắt thậm chí cả máu nữa để làm cho đất cứng hóa mềm, mới đào được con kinh vừa dài vừa rộng như sông, cặp theo biên giới, ăn từ sông Hậu ở Châu Đốc đến Giang Thành (Hà Tiên – Kiên Giang). Công trình ích nước lợi dân này, cho đến ngày nay và mãi mãi về sau, mỗi khi nhắc, nói, ngắm nhìn, không ai không nghiêng mình bùi ngùi cảm phục.
Ta biết, tham gia cật lực tại công trường có đến hàng ngàn, nhưng số người chết trong việc đào kinh và chết trên các chiến trận ở vùng biên giới heo hút này không phải là ít; nhưng cụ thể là bao nhiêu thì cả đến những người chỉ huy trực tiếp cũng không ai dễ dàng biết được.
Để tưởng nhớ công ơn họ và an ủi phần nào vong linh người đã khuất, và cũng xuất phát từ lòng yêu thương đồng bào, đạo lý ngàn đời của dân tộc, ông Thoại Ngọc Hầu – người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đào con kinh này, đồng thời cũng được giao trọng trách bảo vệ biên phòng – sau khi đã “dọn cỏ dẹp gai”, hoàn thành kinh Vĩnh Tế dài gần 100 km, ông đã phục mệnh vua, cho người tủa đi dọc theo hai bên bờ kinh tìm kiếm hài cốt/ những nấm mồ các binh dân tử nạn chôn tạm để xúc tiến cải táng tập thể. Tất cả được an vị bên triền núi Sam, ngay cạnh khu đất mà ông đã chọn làm sinh phần cho mình. Sau đó, vào ngày lành tháng tốt, truyền rằng Thoại Ngọc Hầu đã “thừa đế linh” trọng thể tổ chức và đứng làm chủ tế buổi lễ tế các cô hồn tử sĩ, tử nạn trong việc đào kinh. Dịp này ông đã tuyên đọc bài văn tế vô cùng thống thiết, nhan đề Thừa đến lịnh, tế cô hồn Vĩnh Tế tân kinh (còn gọi Tế nghĩa trủng văn). Xin ghi lại bản dịch vần theo thể thơ song thất lục bát từ nguyên tác chữ Hán:
Trời xanh thẳm mồ hoang lợp lợp
Trăng soi nhòa mấy lớp bia tàn!
Mây che bao nấm đất vàng
Sương sa sao giọi gò hoang đổi dời!
Máy tạo thể trò chơi lũ trẻ
Bóng quang âm như kẻ qua đường
Lúc sanh khi lớn không tường
Là trai hay gái khó tường họ tên?
Hiền hoặc dữ, hư nên nào rõ,
Cha anh đâu, còn có cháu con?
Việc người ta biết chưa tròn
Xưa làm chi đấy, hãy còn nghĩ suy!
Đào kinh trước mấy kỳ khó nhớ
Khoác nhung y chống đỡ biên cương
Bình man máu nhuộn chiến trường
Bọc thây da ngựa gởi xương xứ nầy
Quê cách trở lấy ai hộ tống
Sống làm binh thác chống quỷ ma
Than ôi! Ai cũng người ta
Mà sao người lại thân ra thế nầy!
Mồ ba thước gởi thây cõi lạ
Lễ Thanh minh ai sá quét cho.
Ai trừ gai gốc lan bò
Gió dồn mưa dập làm cho mòn lần
Ngày viên huyệt hú rân thê thảm
Đêm tử quy ảm đạm khóc than
Mênh mông đất rộng mây ngàn
Vật vờ lửng đửng hồn an nơi nào!
Móc đỡ dạ mây bao xác ốm
Đèn ma trơi lửa đốm lập lòe
Bờ sông đất chờ trời che
Vì ai cảnh vật cũng tê tái lòng!
Nế không gặp được ông Tây Bá (2)
Nắm xương khô tan ra khắp đồng
Giờ ta vâng lệnh bệ rồng
Dời người an táng nằm chung chốn này
Chọn đất tốt thi hài an ổn
Cảnh trời thanh vui nhộn cùng nhau
Hằng năm cúng tế dồi dào
Tràn trề lễ trọng dám nào để vơi
Ơn đức rộng cho người chín suối
Được hưởng nhờ đền buổi gian lao
Mộ phần xa cách biết bao
Quê hương chìm đắm lòng nào ta an
Mắt chạm thấy lòng càng tưởng nhớ
Dầu đưa tay với đỡ được đâu.
Tỏ lòng ghi nhớ ơn sâu
Điếu người thiên cổ mấy câu ca rằng:
Đỉnh núi Sam gió xuân thổi ngót
Triền núi Sam móc ngọt đượm nhuần
Hợp nơi nhà vắng reo mừng
Hồn ơi! Hồn hỡi! Mựa đừng luyến xa
Cỡi văn báo hay là xe ngựa,
Cảnh chia ly gợi ứa lệ hồng,
Phương Tây gió ngựa ruổi dong,
Núi Sam sừng sựng như trông theo hồn... (3)
Kinh, làng, bia, mồ mả, và cả bài văn tế nghĩa trủng... tất cả đều còn đó dấu tích sừng sững! Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, là người Việt Nam không ai không mong muốn “Hằng năm cúng tế dồi dào, tràn trề lễ trọng dám nào để vơi”.
Không thấy sử sách ghi lại lễ tế diễn ra vào lúc nào, tại đâu, tuy nhiên qua bài Tế nghĩa trủng vănta có thể đoán chắc rằng buổi lễ tế hẳn phải được tổ chức ngay tại nơi đã cải táng các mồ mả ấy. Về thời gian thì rất có khả năng là vào ngày rằm tháng 2. Sở dĩ có sự ước đoán như vậy là do dựa theo lời dẫn của Đốc học Nguyễn Thông trong bài Nghĩa trủng phú(Phú nghĩa địa làm phúc): “Tháng 5 niên hiệu Tự Đức 18 (1865) có lệnh sai các quan lập nghĩa trủng và kiểm tra thu nhặt hài cốt những mồ hoang ở chung quanh thành của tỉnh; mai táng lại một chỗ, hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 2 thì ban tế một lần. Thông này đã vâng lệnh làm văn tế, nhân cảm động việc làm ấy, nên lại làm bài phú này” (4). Còn năm, tuy không rõ đích xác nhưng ta dễ dàng suy đoán một cách có cơ sở, là từ khoảng 1824 đến 1828 chứ không thể trễ hơn (vì ông Thoại Ngọc Hầu bệnh mất ngày 6 – 6 năm Kỷ Sửu, 1829), và cũng khó sớm hơn được, bởi con kinh này hoàn công năm 1824, cho “dựng bia làm ghi”. Chỉ trong khoảng thời gian ấy ông Thoại Ngọc Hầu mới “Thừa đế lịch tế cô hồn Vĩnh Tế tân kinh”. Điều đáng lưu ý là nếu lễ tế diễn ra vào sau tháng 9 Âm lịch (1828), hoặc trước tháng 6 Âm lịch (1829) thì, vào thời điểm ấy núi Sam đã được vua ban danh là núi Vĩnh Tế (bia Vĩnh Tế Sơn), thế thì tại sao ông Thoại lại không gọi tên mới là Vĩnh Tế Sơn mà vẫn gọi Sam Sơn? (Sam chi thượng hề...; Sam Sơn chi hạ hề...; Sam Sơn chi tây hề...). Người soạn đặt sơ sót? Hay một sự cố ý, cho rằng do các cô hồn đều là những người đã chết trước khi vua ban tên mới cho núi (Vĩnh Tế Sơn) nên buộc phải gọi tên cũ (Sam Sơn) đặng họ dễ biết, dễ hiểu?
Tuyên đọc bài văn tế, ông Thoại đã long trọng nghiêm hứa:
Hằng năm cúng tế dồi dào,
Tràn trề lễ trọng, dám nào để vơi!
Nhưng vì sao sau đó lễ tế không được đáo lệ tổ chức? Qua sử sách ta được biết lúc bấy giờ việc biên cảnh chưa yên nên triều đình đã chỉ thị quan trấn tỉnh phải tập trung lo việc biên phòng, vì tin thám cho biết “nước Xiêm đang muốn lén tới xâm chiếm nước ta”, còn “Lạp thì đang nuôi ý đồ làm phản”. Giữa lúc ấy Thống chế Thoại Ngọc Hầu qua đời (1829). Thống chế Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên được bổ đến thay (1830). Lãnh ấn Bảo hộ không bao lâu ông Tuyên lại mất (1831). Triều đình cho Tham tri lãnh hộ Tào Gia Định là Ngô Bá Nhơn bảo hộ Chân Lạp, giữ đồn Châu Đốc kiêm lãnh việc biên trấn Hà Tiên (1832). Cũng trong năm này Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt mất! Rồi loạn Lê Văn Khôi dấy lên đều khắp, quân Xiêm đem đại binh tràn xuống đánh chiếm hầu khắp các tỉnh thành. Thù trong giặc ngoài dai dẳng... Binh triều phải tả xung hữu đột, liên tục đánh Nam dẹp Bắc giành lại từng tấc đất, con kinh... Cứ thế việc nối việc! Cho đến 1867 triều đình để mất nốt 3 tỉnh còn lại là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên! Chính vì những lẽ ấy mà lễ tế nghĩa trủng hàng năm đành phải đình trệ. Nhưng đó là chuyện của thời trước...
Còn nay, giang sơn đã hơn 30 năm thu về một mối, đất nước thanh bình, thiết nghĩ phục hồi việc tổ chức trọng thể lễ tế nghĩa trủng hàng năm là cần thiết và phù hợp với truyền thống đạo lý, bở bất cứ người Việt Nam nào cũng không thể không bùi ngùi chạnh cảm khi mục kích những ngôi mộ không ai hương khói. Vả lại, những người an nghỉ ấy chính là những chiến sĩ đã “da ngựa bọc thây” trên các chiến trường bảo vệ biên giới cùng là những dân phu trong việc đào kinh. Họ hi sinh vì nghĩa lớn.
Người xưa đã “Chọn đất tốt thi hài an ổn” để “Tỏ lòng ghi nhớ ơn sâu” thì, người nay lẽ nào lại quá “vô tư”, không tổ chức được buổi lễ truyền thống mang ý nghĩa đậm tính nhân văn, giúp các cô hồn đỡ bơ vơ như Thoại Ngọc Hầu đã nghiêm hứa?
Theo thiển nghĩ, với tinh thần có thủy có chung, chúng ta “Hằng năm cúng tế dồi dào” và càng “Tràn trề lễ trọng...” càng góp phần không nhỏ trong việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại một vùng đất có đặc điểm văn hóa lịch sử và vị trí địa lý rất đặc biệt của Nam bộ. Làm được như vậy, không chỉ đáp ứng thỏa đáng nhu cầu văn hóa tâm linh chính đáng của nhân dân trong vùng, mà còn thỏa lòng khách thập phương mỗi khi đến An Giang tham quan, ngoạn cảnh. Và tất nhiên họ sẽ cùng nhau “sớm thăm tối viếng”, thành lòng khói hương vọng tưởng những người vì đại nghĩa quên mình.
Số phận của họ hoàn toàn xứng đáng với tình cảm biết ơn vô biên của hậu thế.
Chú thích
1. Không rõ ai là người phụng lệnh viết thay, hay chính Thoại Ngọc Hầu là tác giả. Đây ứng vào câu “Khâm sai thống chế đóng giữ đồn Châu Đốc được lãnh ấn Bảo hộ nước Cao Miên kiêm quản công việc ngoài biên trấn Hà Tiên, được thưởng nhất cấp, kỷ lục một lần, Thoại Ngọc Hầu biên soạn” (theo bản lược dịch Bia Thoại Sơn, khắc đá, đặt tại đình thần Thoại Ngọc Hầu ở Thoại Sơn) thì Thoại Ngọc Hầu chính là tác giả bàiTế nghĩa trủng văn này (Hai người có trách nhiệm thực hiện Bia là: “Đốc học thành Gia Định Cao Bá viết chữ” và “Thiêm sự bộ Công, vâng giữ công việc lương tiền đồn Châu Đốc Đoàn Hầu đính chính”).
2. Tây Bá tức vua Văn Vương nhà Châu. Lúc hạ lệnh đào ao, phu đào đất đào được xương khô, nhà vua bảo các quan chôn cất để tỏ lòng thương xót. Thiên hạ nghe vậy đồn rằng: “Tây Bá hầu ơn sâu đến nắm xương khô, huống chi là đối với người” (“Tây Bá trạch cập khô cốt, huống chi nhân hồ”).
3. Theo Nguyễn Văn Hầu –Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, Hương Sen xb, S, 1972.
4. Dẫu lại từThơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858 – 1900), Nxb Văn học, 1976.








