Rubella & hậu quả đối với thai nhi
Vào cuối thế kỷ 19, Rubella vẫn được xem là bệnh ít quan trọng. Mãi đến năm 1941, Gregg phát hiện ra mối liên hệ giữa bệnh Rubella xảy ra ở người mẹ khi mang thai với những dị tật bẩm sinh ở con và người ta bắt đầu quan tâm đến bệnh Rubella.
Tại Mỹ, trước khi có vắc xin, bệnh Rubella thường xảy ra vào mùa xuân, ở học sinh từ 5 đến 9 tuổi. Các trận dịch lớn xảy ra sau mỗi 6 - 9 năm. Trận dịch gần đây nhất xảy ra vào năm 1964 - 1965 với hơn 12 triệu ca bệnh và hơn 20.000 trẻ bị Rubella bẩm sinh. Từ khi vắc xin phòng bệnh được sử dụng vào năm 1969, không ghi nhận thâm trận dịch nào nữa. Tại Việt Nam , bệnh Rubella mới xuất hiện trong những năm gần đây.
![]() |
| Phát ban do Rubella |
- Dịch tiết đường hô hấp và nước tiểu trẻ nhũ nhi mắc bệnh Rubella bẩm sinh chứa một lượng lớn siêu vi trong nhiều tháng sau khi sinh, có thể kéo dài đến hai tuổi và có thể lây cho người chăm sóc trẻ.
- Những người tiêm vắc xin phòng bệnh Rubella không thể truyền bệnh sang người khác mặc dù có thể phân lập được siêu vi từ họng, do số lượng siêu vi quá ít.
Thường nhẹ hoặc không có triệu chứng, trẻ em thường nhẹ hơn người lớn.
Biểu hiện ban đầu của bệnh giống như bị cảm cúm nhẹ: sốt nhẹ, mệt mỏi và chán ăn vài ngày. Sau đó là thời kỳ bệnh toàn phát với các triệu chứng:
![]() |
| Đầu nhỏ |
- Phát ban:thường bắt đầu ở mặt và lan dần xuống phần dưới cơ thể, khi di chuyển sang phần khác thì ban mọc trước lặn dần. Phát ban thường kéo dài từ 3 - 5 ngày.
- Sốt:thường chỉ xuất hiện trong giai đoạn đầu.
Sau đó ban biến mất dần theo trình tự khi xuất hiện.
Biến chứng viêm khớpvà đau khớp xảy ra ở 1/3 phụ nữ mắc bệnh, ít gặp ở trẻ em và phái nam. Viêm khớp xuất hiện khi phát ban, kéo dài vài tuần và thường gặp ở khớp ngón tay, cổ tay, khớp gối.
Hậu quả đối với thai nhi
![]() |
| Còn ống động mạch |
![]() |
| Đục thủy tinh thể |
Điều trị
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh Rubella; chỉ điều trị triệu chứng: hạ sốt giảm đau bằng paracetamol, kháng viêm bằng các loại kháng viêm không steroid nếu có viêm khớp, tăng sức đề kháng bằng vitamin, nước quả (trái cây) tươi.
Phòng ngừa
Từ năm 1969, vắc xin Rubella sống, giảm hoạt lực bắt đầu được đưa vào sử dụng. Thông thường nên tiêm ngừa cho trẻ từ 12 - 15 tháng tuổi và nhắc lại vào lúc 5 - 6 tuổi, hoặc là tiêm ngừa khi trẻ bắt đầu đi nhà trẻ mẫu giáo hay trước khi mùa bệnh xảy ra. Đối với trẻ em gái bước vào tuổi dậy thì và phụ nữ trước khi thành hôn, nếu trước đó chưa mắc bệnh Rubella, nên sử chủ động tiêm ngừa để phòng bệnh Rubella bẩm sinh cho con mình sau này. Vắc xin Rubella không bao giờ được tiêm cho phụ nữ đang mang thai hoặc có thể sắp có thai trong vòng 3 tháng. Vắc xin tạo hiệu quả bảo vệ trong hơn 95% số người chích ngừa và số người mắc bệnh giảm đến 98%, hiệu quả bảo vệ kéo dài ít nhất 16 năm, có khi cả đời.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 353, 1/4/2008, tr 25












