Rau sam bảo vệ sức khoẻ
Rau sam có tên Hán là Mã sĩ hiện (rau răng ngựa vì có lá hình giống răng ngựa) và nhiều tên khác như Trường thọ thái. Tên khoa học Portalaca oleracea L., họ Rau sam Portulacaceae. Có 2 loại thân màu tím thẫm và nhạt (loại thẫm dùng làm thuốc tốt hơn).
Rau sam là loại rau giàu chất dinh dưỡng. Chất lượng thay đổi tuỳ nơi mọc và mùa thu hái. Trong 100 g Rau sam có 1,4 g đạm, 3g đường, 100mg chất béo, 700mg chất xơ, nhiều chất khoáng như canxi, phốt pho, sắt, magiê, kali… và các vitamin B1, B2, PP và C.
Rau sam có tác dụng kháng khuẩn: nước cốt và nước sắc trị khuẩn Shigellagây lỵ trực trùng (nhưng chỉ được một thời gian ngắn, sau đó bị kháng lại), trị khuẩn Salmonella typhigây bệnh thương hàn, trị tụ cầu vàng gây nhọt ngoài da…
Rau sam diệt nấm, diệt ký sinh trùng đường ruột: giun móc, giun kim, giun đũa. Đối với giun móc, thử trên hàng trăm bệnh nhân sau 1 tháng, phân của 80% bệnh nhân hết trứng giun móc. Với giun kim, giun đũa: ăn 200g Rau sam tươi (nhai kỹ) có kết quả tẩy rất tốt. Ăn được vài ngày liên tục kết quả càng cao. Đối với lỵ trực trùng, Rau sam đã chứng tỏ có hiệu quả cao cả về phòng và chữa bệnh.
- Tác dụng trên cơ: Rau sam làm vững chắc thành mạch chống chảy máu, giãn cơ bộ máy tiết niệu làm lợi tiểu (cùng tác dụng của kali), chống cơn co thắt gây đau đớn. Rau sam gây co bóp tử cung (nên không dùng nước ép Rau sam cho người có thai).
- Tác dụng trên xương khớp để chống viêm, cộng thêm tác dụng lợi tiểu nên có thể áp dụng cả trên bệnh thống phong (gút). Dựa vào hoạt chất có tác giả dưa ra ý kiến dùng chống trầm cảm qua tác dụng hưng phấn.
Trong Đông y, Rau sam vị chua, tính lạnh, vào kinh tâm và đại tràng. Có tài liệu ghi vào can và đại tràng, không độc có tác dụng lợi đại tiểu tiện, thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, giảm đau.
Trong danh mục những cây thuốc, Tổ chức Y tế thế giới ghi Rau sam dùng chữa thấp khớp, phụ khoa, giảm đau, lợi tiểu, trợ tim, hạ sốt cao, trị giun kim, kích thích tiết mật, hạ đường huyết, làm thuốc bổ dưỡng. Dùng ngoài chữa chàm, mụn nhọt lở loét…
Để làm thuốc chọn loại đỏ to bậm, dùng toàn cây (bỏ rễ) dạng tươi hoặc khô. Dạng dùng tươi hoặc khô sắc lấy nước uống, bã đắp ngoài.
Một số cách thường dùng.
Chữa lỵ trực tràng
- Trẻ em đi lỵ: Rau sam tươi giã vắt lấy nước cốt đun sôi. Có thể cho ít mật ong để dễ uống.
- Kiết lỵ ra máu: Rau sam 200g thái nhỏ, nấu với 100g nếp thành cháo (không cho muối) ăn lúc đói.
- Lỵ cấp và mãn: 1 kg Rau sam nấu với 3 lít nước lọc còn 1 lít. Người lớn 3 lần/ ngày. Mỗi lần 70 ml (dùng trong bệnh viện).
Tẩy giun móc
Rau sam tươi 300g giã vắt lấy nước nấu lên thêm ít muối hoặc đường. Ngày uống 2 lần khi đói liên tục 3 ngày là một liệu trình. Uống 1 - 3 liệu trình. Kết quả giảm 80% trứng giun móc. Có viên Rau sam trị giun móc.
Bệnh răng miệng
- Môi miệng lở loét: nước cốt Rau sam hoặc Rau sam sắc đặc bôi.
- Đau răng: nước cốt tươi hoặc sắc đặc ngậm súc miệng.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 353, 1/4/2008, tr 17.








