Quy mô các dự án giao thông vận tải trên Hành lang Đông - Tây trong Chương trình hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng
Sự ra đời của các tổ chức kinh tế - xã hội mang tính khu vực và quốc tế đang là xu thế chủ đạo trong hơn một thập kỷ nay, nó là cơ hội lớn cho các quốc gia thâm nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, với mục đích chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo. Trong khuôn khổ GMS thì đây còn là cơ hội để các nước trong khu vực cùng nhau giải quyết những vấn đề mang tính khu vực mà các quốc gia riêng lẻ khó lòng giải quyết được.
Chương trình hợp tác Tiểu vùng Mêkong mở rộng có mục tiêu chung là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân nằm trong lưu vực sông Mêkong. Lãnh đạo các nước thuộc GMS đưa ra tầm nhìn cho chương trình là xây dựng Tiểu vùng Mêkong thành một khu vực mang tính "Kết nối, Cạnh tranh và Cộng đồng - Connectivity, Competitiveness, Community - 3C".
Về phương diện giao thông, các nước tham gia GMS đã nhất trí thiết lập hệ thống hành lang giao thông nhằm kết nối các vùng hoặc các khu vực thuộc lãnh thổ các nước. Trong số các nước thuộc GMS thì Việt Nam và Thái Lan đã tham gia vào cả 3 hành lang giao thông, bao gồm các Hành lang Đông - Tây, Hành lang Bắc - Nam từ Côn Minh qua Lào đến Băng Cốc và Hành lang phía Nam nối Thành phố Hồ Chí Minh - Phnôm Pênh - Băng Côc. Trong đó, Hành lang Đông - Tây đã được nối thông từ cuối năm 2006, trở thành hành lang kinh tế đi vào hoạt động sớm nhất.
Hành lang Đông - Tây nối thông giữa các khu vực và chính là một trong những chương trình hợp tác quan trọng nhất của GMS. Hành lang Kinh tế Đông - Tây tạo điều kiện phát triển một hệ thống giao thông đạt hiệu quả cao, cho phép hàng hoá và hành khách lưu thông trong khu vực Tiểu vùng sông Mêkong mở rộng có chi phí hợp lý và không gặp bất cứ trở ngại nào.
Trục giao thông cốt yếu của Hành lang Đông - Tây chính là tuyến đường bộ xuyên suốt từ Myanma đến Đà Nẵng, có chiều dài 1450km, đi qua địa phận 4 nước là Myanma, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Đây được coi là trục đường chiến lược, cắt ngang lục địa, nối Biển Đông tại Đà Nẵng và ấn Độ Dương tại Myanma. Các dự án phát triển GTVT trên hành lang kinh tế Đông - Tây được bắt đầu từ Mawlamyine, điểm cực tây phía nam đất nước Myanma tới Myawaddy với nội dung nâng cấp đường bộ theo các hướng tuyến Myawaddy - Kawkareik - Paan - Mawlamyine và Myawaddy - Kawkareik - Mudon - Mawlamyine với chi phí cỡ 100 triệu USD.
Trong nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ trên hành lang phía Myanma, tuyến đường số 58 (Mea Sot - Myawaddly - Tanowsri 1) đề xuất xây dựng lại 40 km đoạn đường đèo từ Tanowsri - Kawkareik hiện chỉ đi được 1 chiều/ngày. Hướng tuyến phía Nam lựa chọn đoạn Thingannyinaung - Kawkareik dự kiến xây dựng trước năm 2010, với số tiền 19 triệu USD từ nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Thái Lan. Bên cạnh đó, chính phủ Myanma cũng đã phê duyệt giai đoạn 2 dự án xây dựng tuyến đường bộ số 8 nối Kawkareik - Mawlamyine - Thaton dài 189 km. Khi dự án hoàn thành, con đường sẽ nối thông Thái Lan - Myanma - Ấn Độ.
So với các nước nằm trên Hành lang kinh tế Đông - Tây thì Thái Lan là quốc gia có hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tốt nhất, hoạt động có hiệu quả nhất. Song, để cùng với các quốc gia trong hành lang sớm thiết lập được hệ thống đường bộ thông suốt xuyên biên giới, Thái Lan cũng đã đề xuất dự án nâng cấp các tuyến đường bộ 105/12/209/213/2042: Mea Sot - Mukdahan dài 770 km, mở rộng thành đường 4 làn xe. Dự án này hiện đã hoàn thành 308 km đầu tiên, 262 km tiếp theo đang được triển khai và theo kế hoạch sẽ được hoàn thiện trong năm 2011.
Một dự án khác về đường bộ cũng đã được triển khai trên đất Thái Lan, đó là việc xây dựng nốt các đoạn chưa thông tuyến giữa Mukdahan đi Sa Kaeo tới tận cảng Laem Chabang.
Các dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông trên Hành lang Kinh tế Đông - Tây qua đất Lào nhằm nâng cấp hệ thống đường bộ từ Seno đến Muang Phin (thuộc tỉnh Savanakhet). Nhiệm vụ chính của các dự án là nâng cấp 130 km đường bộ đoạn Seno - Phalan (70 km) và Phalan - Muang Phin (60 km), nguồn kinh phí dự kiến 65 triệu USD do Chính phủ Nhật Bản viện trợ không hoàn lại. Ngoài ra, Chính phủ Lào còn đề xuất các dự án mở rộng đoạn đường từ Savannakhet đến km 12 thành đường 4 làn xe, khôi phục 18 km đến Seno, nâng cấp 7 tuyến nối vào Quốc lộ 9 và thay thế 21 cầu yếu.
Cùng với hạ tầng đường bộ, chính phủ Lào cũng đã có kế hoạch nâng cấp sân bay Savannakhet nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Lào và Thái Lan. Dự án này sẽ phân thành 2 giai đoạn tuỳ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của hành khách. Nguồn vốn 17 triệu USD cho dự án đang được đề xuất là vay của Chính phủ Nhật Bản.
Để khai thác năng lực vận tải của sông Mêkong, chính phủ Lào còn hoạch định các dự án nhằm phát triển hệ thống cảng trên sông Mêkong từ Vientiane đến Savannakhet.
Trên đoạn hành lang đi qua Việt Nam, một loạt dự án hạ tầng quan trọng đã được triển khai. Cụ thể:
Dự án nâng cấp Quốc lộ 9, chiều dài 83,5 km với tổng mức đầu tư 25 triệu USD, sử dụng vốn vay của ADB. Dự án này còn nhằm giúp người nghèo và người chịu thiệt thòi ở vùng nông thôn tiếp cận với chợ, có cơ hội việc làm, dịch vụ xã hội thông qua việc xây dựng và nâng cấp các tuyến đường nhánh, đường nông thôn nối với QL 9, xây dựng mới các cầu yếu, cầu tạm và tăng cường quản lý môi trường xã hội.
Dự án hầm đường bộ Hải Vân sử dụng nguồn vốn vay của JBIC đã hoàn thành tháng 6/2005; dự án xây dựng cảng Tiên Sa - Đà Nẵng và cầu Tuyên Sơn hoàn thành tháng 2/2004 với công suất giai đoạn I (1999 - 2004) là thông qua 2,5 triệu tấn hàng hoá/năm và giai đoạn II (2004 - 2010) là 4 triệu tấn hàng hoá/năm.
Ngoài ra, chính phủ Việt Nam cũng đã xem xét các dự án nâng cấp các tuyến đường bộ có liên quan đến Hành lang Đông - Tây, như: nâng lên cấp III tuyến QL8 (từ Thị xã Hồng Lĩnh đến cửa khẩu Cầu Treo), dài 80 km với kinh phí 700 tỷ Đồng; QL217 Na Mèo - Đò Lèn (từ km 154 đến km 194) được nâng lên cấp IV, với nguồn kinh phí 160 tỷ Đồng; nâng cấp QL 19 dài 250 km với nguồn kinh phí 2000 tỷ Đồng; QL24 Kon Tum - Dung Quất dài 168 km có kinh phí đầu tư 1360 tỷ Đồng; QL 9 (giai đoạn 3) với nguồn kinh phí 3000 tỷ Đồng; QL 26 (Buôn Ma Thuột - Cam Ranh) dài 151 km với kinh phí được duyệt là 1208 tỷ Đồng; QL 14 (Nam Giang - Cầu Giằng) dài 76 km, nguồn vốn 760 tỷ Đồng; QL 20/28 Phan Thiết - Đà Lạt dài 140 km, nguồn kinh phí được dự kiến là 1120 tỷ Đồng.
Bên cạnh các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng đường bộ, những dự án phát triển hạ tầng cảng biển khu vực Hành lang Đông - Tây, thuộc vùng Miền Trung Việt Nam cũng được xác định ưu tiên đầu tư. Trong đó, cảng Liên Chiểu nằm trong cụm cảng Đà Nẵng sẽ được đầu tư để xây dựng 250 mét bến container có độ sâu 9 mét cho tàu container tải trọng 30.000 DWT cập bến; xây dựng 320 mét bến tổng hợp có độ sâu 7,5 mét cho tàu 10.000 DWT vào ăn hàng; đầu tư các thiết bị chuyên dùng xếp dỡ hàng hoá cho cảng và xây dựng hệ thống đê chắn sóng dài 850 mét... để cảng Liên Chiểu trở thành cảng cửa ngõ phía Đông và là cảng nước sâu phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu và hàng nội địa, đặc biệt là phục vụ khu vực Tây Nguyên và các nước nằm trên Hành lang kinh tế Đông - Tây.
Cùng với việc thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước nằm trong hành lang phát triển cơ sở hạ tầng GTVT, nước ta cũng đã tham gia các hoạt động tạo thuận lợi trong thương mại và đầu tư như đơn giản hoá thủ tục hải quan, thống nhất dần về tiêu chuẩn vệ sinh nhằm giảm thời gian kiểm tra tại các cửa khẩu, cải thiện năng lực cung cấp dịch vụ logistics và đơn giản hoá thủ tục cấp visa cho thương nhân và hành khách đi lại giữa các nước trong khu vực...
Trên thực tế, sau mấy năm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng GTVT trên Hành lang Đông - Tây, lĩnh vực thương mại và du lịch giữa các quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan có chuyển biến tích cực, các tour du lịch đường bộ qua cửa khẩu Lao Bảo sang Lào và Thái Lan đã gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, so với tiềm năng kinh tế trên tuyến Hành lang Đông - Tây thì quy mô các ngành dịch vụ giữa các quốc gia trên hành lang còn quá nhỏ bé, phát triển chưa đồng bộ và chính sách điều tiết các hoạt động kinh tế, thương mại trong khu vực còn thiếu tính nhất quán.
Đẩy mạnh hợp tác khu vực giữa các nước trong Hành lang kinh tế Đông - Tây sẽ đem lại lợi ích thiết thực và lâu dài cho các quốc gia thành viên. Vấn đề đặt ra là các quốc gia cần phải có sự tin tưởng lẫn nhau và cùng nhau hành động vì quyền lợi chung mà xúc tiến những dự án ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng GTVT, tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải xuyên biên giới, thống nhất các khung thể chế pháp lý cho xe cộ, người và hàng hoá được đi lại dễ dàng giữa các quốc gia. Giao thông thuận lợi và thông suốt sẽ là điều kiện để phát triển các hoạt động thương mại, du lịch giữa các nước trong hành lang và là cơ hội để mỗi nước hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn vào khu vực và thế giới.








