Quan và Lại ở miền Bắc Việt Nam: Chế độ quan trường trước thử thách trong thời thuộc địa
Từ ba thập niên trở lại đây, nếu như xã hội học lịch sử về các nền văn minh Đông Á đạt được tiến bộ đáng kể, thì chủ yếu là trong việc nghiên cứu các giai cấp bình dân hay tầng lớp tư sản lớn hiện đại. Ngược lại, đối với tầng lớp hay giai cấp thống trị xưa, trước hết là tầng lớp quan liêu nho sĩ trong thế giới Hán hoá, thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào có tầm cỡ kể từ Ch’uT’ungtsu, Etienne Balazs và Robert Hartwell, nếu không kể đến các công trình Trung Hoa và Nhật Bản 1.
Về chế độ quan trường Nhà nước ở Đông Nam Á, cụ thể là ở Việt Nam xưa, cách suy nghĩ của chúng ta hiện nay vẫn luôn chịu ảnh hưởng theo cách đọc và những định đề thừa kế từ nền sử học thuộc địa và theo sự đánh giá của các nhà truyền giáo, cũng như nền sử học dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Những nhận định này, trừ một vài biệt lệ và khi nhận xét một vài nhân vật của thế kỷ XVIII và XIX, thường được đánh giá theo mô hình của một chế độ quan lại thối nát và bất lực, trì trệ và xơ cứng, tê liệt trong bảo thủ, cứng nhắc và cổ lỗ. Nói chung, những cuộc điều tra về nền quan liêu Viễn Đông chỉ bó hẹp, ít ra là đến thời gian gần đây, trong phạm vi chức năng quan liêu chính thức và nhiều khi chỉ là mô tả thiết chế về đào tạo và tuyển dụng - bằng con đường thi cử hay bằng xuy cử - cũng như sự vận hành của bộ máy hành chính mà bản thân nó rất phức tạp. Kết quả của những nghiên cứu hiện có là đáng kể. Nhưng nói thật ra, những nghiên cứu có ý định khoanh lại diện mạo xã hội học của chế độ quan liêu xưa và nay, về dân sự và quân sự, vẫn còn ít, và trong trường hợp Việt Nam, chúng thường bỏ qua tầm vóc hiện đại, thực tế hơn như người ta nói. Còn những công trình tìm cách đi sâu vào cơ chế vận hành giữa quyền lực quan liêu với xã hội mà nó cai trị, đặc biệt là những viên chức nhỏ đảm nhiệm công việc hàng ngày, “cơ tầng quan liêu” mà cuốn sách này nói đến, thì lại càng hiếm hơn. Không nói đến địa dư lịch sử của nền cai trị quan liêu vẫn còn ít được biết đến, ít ra là không có gì chắc chắn.
Đấy là những chủ đề cơ bản của cuốn sách này. Nó đề cập những vấn đề nêu trên trong bối cảnh xứ Bắc Kỳ, vào buổi kết thúc nền độc lập của Đại Nam và suốt bốn thập niên đầu của nền đô hộ Pháp, giai đoạn bản lề trong việc tìm kiếm công thức chính trị của chế độ thuộc địa ở Đông Dương và hoàn thành việc chuyển tiếp từ “chế độ quan liên thời chinh phục” sang một “chế độ quan liêu thời quản lý”. Những đóng góp của công trình này là rất mới mẻ. Trước hết là sự phong phú của tư liệu cơ bản, bằng chữ Hán chữ Việt hay chữ Pháp, đã được khai thác, tập hợp và xử lý. Cụ thể là những phông đặc biệt của Kinh lược Bắc Kỳ và của Thống sứ Bắc Kỳ giữ ở Trung tâm lưu trữ Quốc gia Hà Nội, mà những hồ sơ về cá nhân đã cung cấp tư liệu cho một nền xã hội học lịch sử tổng quát phong phú có một không hai về chế độ quan lại Bắc Việt Nam đầu thế kỷ. Chúng được làm luận cứ cho sự nghiên cứu chính xác, dưới ánh sáng những nguồn tư liệu của triều đình và những công trình của các nhà sử học Việt Nam gần đây, về cấu trúc phức tạp của nền quan liêu xưa, về cách thức đào tạo và tập sự, về thể thức chi lương bổng và thang bậc tiến thân, về nền văn hoá riêng biệt và truyền thống triều đình trong việc cải cách thường xuyên của các triều Lê và Nguyễn.
Điểm thứ hai phải nhấn mạnh là tính độc đáo của cách tiếp cận vấn đề và phương pháp tiến hành nghiên cứu. Càng đọc chúng ta càng thấy những phát hiện đáng ngạc nhiên. Nếu như vấn đề các quan được triều đình bổ nhiệm ít có gốc gác tại địa phương thường được nêu rõ, thì sự xuất hiện những tỉnh có truyền thống làm quan lâu dài (bốn tỉnh Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh và Hải Dương) và cả một số làng làm quan, thì việc tuyển dụng quan trường lại rất tập trung, cụ thể là năm huyện xung quanh kinh thành. Có biết bao phát hiện về cả một khu vực địa lý, đã tồn tại từ xưa nhưng được tiếp tục dưới thời thuộc địa, từ gốc gác những người thi đỗ và những dòng họ làm quan cũng như xuất xứ những thuộc lại. Điều đó khẳng định rằng dưới sự cai trị của người Pháp đã có sự “Bắc Kỳ hoá” trong tuyển dụng, ngược với xu hướng nặng nề của thế kỷ trước. Vấn đề không kém phần mới mẻ là cái nhìn lịch sử xem lại chế độ quan liêu Việt Nam, về tính hai mặt trong sự dung hợp với chế độ thuộc địa và về tương lai lịch sử của quan trường, mà cuốn sách đã khai thác tỉ mỉ hàng loạt hồ sơ tiến thân của các quan ở Bắc Kỳ trong giai đoạn đó.

Thật vậy, chế độ quan liêu của triều đình đã thay đổi như thế nào một khi đối diện với vấn đề lịch sử mới do chế độ thuộc địa thiết lập? Ở đây, tôi chỉ nêu một vài câu trả lời mà Emmanuel Poisson đã giải đáp câu hỏi đó. Thứ nhất là sức sống liên tục của quan trường từ chế độ này sang chế độ kia, tính liên tục năng động của nó. Vì chế độ quan trường châu Á không có nghĩa chỉ là nặng nề, đè nén xã hội. Nó không phải hay không giống với chế độ quan liêu của Sa hoàng nước Nga, với thế giới nhỏ hẹp của các quan thanh tra mà Gogol thích miêu tả, thường được trí thức Nga thế kỉ XIX lên án. Ở Việt Nam, bộ máy hành chính của triều đình tương đối nhẹ hơn (dù cho nó có dày đặc hơn Trung Quốc), dưới thời thuộc địa nó vẫn như vậy, ít ra là đến năm 1920. Con đường tuyển dụng, việc bắt buộc phải trải qua “lò luyện nhân tài” của trường học cổ điển sinh động và nổi tiếng, ngay cả ở một số làng, các thầy học vẫn truyền cho học sinh những công thức lập luận không thể xoá mờ, vẫn không thay đổi cho đến khi chế độ thi hương bị bãi bỏ năm 1918. Kết quả là giống như những người tiền nhiệm, các quan thời đô hộ ở Bắc Kỳ gồm hai phần ba là những người đỗ đạt qua những kỳ thi đáng sợ đó, mà như người ta nói là họ không hề bị cắt rời khỏi thực tế. Công trình này còn đưa ra ánh sáng sự liên tục của chiến lược nhân sự và tính truyền thống cách ứng xử của giới quan trường, cũng như sức mạnh của các thuộc hạ bên trong hệ thống quan liêu. Từ đấy có thể thấy rằng hình ảnh của tên thông ngôn tầm thường hay viên thư lại được đề bạt làm quan lớn do có công phục vụ kẻ thống trị ngoại bang, thường được phổ biến trong nhiều xuất bản phẩm thuộc địa cũng như phần lớn tác phẩm của những tác giả chống thực dân, là điều tương đối nhầm lẫn. Trong giới quan trường đầu thế kỷ XX, những thuộc viên đắc lực phục vụ công cuộc xâm lược, những kẻ chuyên nghề đàn áp, rõ ràng chỉ chiếm số ít. Những người ra làm quan theo con đường cổ điển chiếm số đông. 






