Quản lý môi trường trên địa bàn Hà Nội
Những vấn đề không thống nhất giữa các bộ Luật có liên quan với Luật Bảo vệ Môi trường:
Không thống nhất giữa Luật BVMT và Luật đầu tư:Theo Luật BVMT năm 2005, tại mục 4, Điều 22 quy định các dự án đầu tư chỉ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư, xây dựng, đưa vào vận hành, khai thác sau khi báo cáo ĐTM đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường đã được cấp giấy xác nhận. Nhưng trong Luật Đầu tư năm 2005 lại quy định thủ tục đầu tư cho các Dự án bao gồm: Các dự án không phải đăng ký đầu tư, các dự án phải đăng ký đầu tư, các dự án phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư. Trong đó chỉ quy định các dự án phải đăng ký đầu tư có nội dung về cam kết bảo vệ môi trường và các dự án phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư có nội dung về giải pháp bảo vệ môi trường.
Sự không thống nhất giữa hai bộ luật này đã gây trở ngại lớn cho công tác quản lý môi trường của thành phố, nhất là đối với các dự án không phải đăng ký đầu tư.
Không thống nhất giữa Luật BVMT và Luật Xây dựng: Theo Luật BVMT 2005, thẩm quyền thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án quy định tại mục 7, Điều 21 và Điều 22, cụ thể là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình (trừ các dự án liên ngành, liên tỉnh). Tuy nhiên, theo các quy định của Luật Xây dựng năm 2003 và các Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 072/2005 và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ quy định các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, vốn hỗn hợp sẽ do chủ đầu tư tự tổ chức thẩm định dự án và quyết định đầu tư. Đây là một sự thiếu thống nhất và đang là một trở ngại rất lớn đối với cơ quan quản lý môi trường các tỉnh, thành phố cần được quan tâm giải quyết để không gây trở ngại, ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư trên địa bàn, nhất là khi Nhà nước và Thành phố đang có chủ trương khuyến khích và đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong đầu tư trên nhiều lĩnh vực.
Các văn bản hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 chưa đầy đủ:
Chưa có hướng dẫn xử lý các trường hợp các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo Luật, nhưng nay chưa thực hiện và đang hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong phụ lục của Nghị định 80/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường quy định các dự án phải lập báo cáo đánh giác tác động môi trường có quy định các dự án khu dân cư; dự án xây dựng hạ tầng đô thị, khu dân cư; dự án xây dựng cơ sở viễn thông, nhưng chưa quy định rõ quy mô khu dân cư, cơ sở viễn thông nên rất khó thực hiện.
Đề nghị Bộ Tài nguyên & Môi trường có sự phối hợp với Bộ Xây Dựng, Bộ Kế hoạch & Đầu tư sớm ban hành văn bản hướng dẫn đối với việc tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự án đầu tư sử dụng vốn ngoài ngân sách Nhà nước, vốn hỗn hợp do chủ đầu tư tự tổ chức thẩm định dự án và quyết định đầu tư, để các địa phương thực hiện, không gây ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư trên địa bàn, nhất là khi Nhà nước và Thành phố đang chủ trương khuyến khích và đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong đầu tư nhiều lĩnh vực.
Việc thực hiện công tác thu phí bảo vệ môi trường chưa hợp lý, thiếu sự phối hợp, phân công hợp lý giữa các ngành có liên quan:
Phí bảo vệ môi trường là một trong những nội dung của chương trình phí và lệ phí của Nhà nước do Bộ Tài chính làm đầu mối. Việc thu thuế vốn đã hình thành một hệ thống tổ chức xuống tới tận phường, xã, thị trấn với một lực lượng khá đông. Vì vậy việc thu phí bảo vệ môi trường (đối với các doanh nghiệp) cần có sự phối kết hợp giữa hai cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường và cơ quan thuế trên cơ sở tận dụng những tiềm năng, năng lực sẵn có để công tác thu phí đạt kết quả cao. Cụ thể phân công như sau:
Việc thẩm định và ra thông báo phí bảo vệ môi trường do Sở Tài nguyên Môi trường đảm nhiệm. Đôn đốc nộp phí và xử lý các vi phạm pháp lệnh phí do cơ quan Thuế đảm nhiệm.
Bên cạnh đó cần công bố định mức phát thải các chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp thuộc diện nộp phí bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 9 Nghị định 67 đã sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 04/2007/NĐ-CP làm căn cứ tính toán khối lượng chất gây ô nhiễm và để xác định số phí phải nộp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thẩm định, thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Đồng thời sớm công bố danh sách các đơn vị đủ điều kiện đã được cấp giấy phép hoạt động đo kiểm, lấy mẫu phân tích mẫu nước thải để có đủ căn cứ pháp lý giải quyết trong các trường hợp có khiếu nại hoặc yêu cầu thẩm định lại số phí bảo vệ môi trường phải nộp.
Trong vai trò là cơ quan đầu nối, Bộ Tài nguyên và Môi trường là cầu nối giữa thành phố và các Bộ, ngành khác để thực hiện có hiệu quả các chương trình, nhất là các vấn đề môi trường liên tỉnh, quản lý lưu vực sông.








