Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 24/05/2006 13:56 (GMT+7)

Quản lý chương trình khoa học và công nghệ: Từ quy chế tạm thời 41 đến quy chế 2006-2010

Những hạn chế của Quy chế tạm thời 41

Chương trình KH và CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường năng lực của ngành KH và CN.

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức, quản lý hoạt động của chương trình KH và CN giai đoạn 2001 - 2005, các tồn tại của cơ chế quản lý cũng được nhận ra. Phương thức quản lý các đề tài, dự án (theo Quy chế tạm thời 41) vẫn còn dấu ấn của cơ chế hành chính bao cấp, khó tránh khỏi tình trạng dàn trải và trùng lặp, việc đánh giá hiệu quả hoạt động KH và CN chưa được quan tâm đúng mức. Vẫn còn tỷ lệ đáng kể các nhiệm vụ chưa thật sự gắn với thực tế sản xuất và đời sống; tỷ lệ công nghệ và thiết bị được áp dụng vào sản xuất chưa cao, phạm vi ứng dụng còn hạn chế. Nhiều nhiệm vụ còn ôm đồm quá nhiều nội dung, trong khi mục tiêu còn chung chung nên việc giải quyết các vấn đề thường không trọn vẹn, không triệt để, kết quả khó có khả năng ứng dụng.

Ngày 18-7-2001, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN) đã có Quyết định số 41/2001/QÐ-BKHCNMT ban hành (KH và CN) trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 (gọi tắt là Quy chế tạm thời 41).

Ðể quản lý tốt các chương trình KH và CN cấp Nhà nước trong giai đoạn mới, Bộ KH và CN đã xây dựng và chuẩn bị ban hành Quy chế quản lý chương trình KH và CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010 (gọi tắt là Quy chế 2006 - 2010).

Trong tổ chức thực hiện chương trình KH và CN, một số nhiệm vụ được lựa chọn chưa thật cấp bách, chưa thật sự gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhiều trường hợp chỉ là tập hợp cơ học của một loạt các đề tài, lĩnh vực, thiếu sự gắn kết theo mục tiêu, nên trong quá trình triển khai, từng nơi thực hiện các nội dung độc lập nhau, ý tưởng gắn kết các nhà khoa học để giải quyết một vấn đề lớn không thực hiện được. Việc tổ chức các hội đồng tư vấn trong tuyển chọn có lúc chưa bảo đảm khách quan, còn nhiều vấn đề về chuyên môn và tính khách quan của chuyên gia trong hội đồng...

Những điểm mới của Quy chế 2006 - 2010

Quy chế 2006 - 2010 được xây dựng trên quan điểm: Khắc phục những hạn chế của Quy chế tạm thời 41; kế thừa kinh nghiệm thực tiễn qua quá trình quản lý chương trình giai đoạn 2001 - 2005; nâng cao vai trò quản lý Nhà nước của Bộ KH và CN trong quản lý chương trình giai đoạn 2006 - 2010; đẩy mạnh phân cấp, phân nhiệm cho Ban chủ nhiệm chương trình, đề cao trách nhiệm của Ban chủ nhiệm đối với quá trình triển khai và kết quả hoạt động của chương trình, tạo điều kiện chủ động cho Ban chủ nhiệm; quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ KH và CN, Ban chủ nhiệm chương trình, các tổ chức chủ trì và chủ nhiệm các đề tài, dự án; bảo đảm công khai, dân chủ trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình.

Từ những quan điểm này, Quy chế 2006 - 2010 được soạn thảo có một số thay đổi quan trọng so với Quy chế tạm thời 41.

Thứ nhất: Chức năng, nhiệm vụ của Ban chủ nhiệm chương trình. Quy chế 2006 - 2010 (dự thảo) quy định Ban chủ nhiệm chương trình là đơn vị cấp dưới của Bộ KH và CN, do Bộ thành lập và trực tiếp nhận các nhiệm vụ từ Bộ. Ban chủ nhiệm chương trình chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng KH và CN trong cả quá trình từ tổ chức tuyển chọn các tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài dự án, đến tổ chức thực hiện và đánh giá nghiệm thu kết quả đề tài, dự án thuộc chương trình.

Với sự phân nhiệm này, Ban chủ nhiệm chương trình phải tham gia ngay từ đầu quá trình hình thành nội dung chương trình, tạo nên sự gắn kết từ giai đoạn hình thành nhiệm vụ đến tiếp tục chỉ đạo hoạt động của chương trình. Ban chủ nhiệm chương trình sẽ chủ động hơn, chịu trách nhiệm lớn hơn trước các đề xuất của mình, khắc phục một phần tình trạng chia cắt trong quá trình quản lý đề tài, dự án.

Thứ hai: Tổ chức Văn phòng chương trình. Theo Quy chế 2006 - 2010, chỉ có một văn phòng giúp Bộ trưởng KH và CN quản lý tất cả các chương trình, giúp các Ban chủ nhiệm chương trình trong quá trình tổ chức triển khai, thực hiện các nhiệm vụ của chương trình, gọi là văn phòng các chương trình. Văn phòng các chương trình là đơn vị trực thuộc Bộ KH và CN, cán bộ, nhân viên văn phòng các chương trình hưởng lương từ kinh phí của chương trình.

Thứ ba: Một số điều chỉnh trong quá trình thực hiện chương trình. Bộ KH và CN sẽ quyết định các điều chỉnh liên quan mục tiêu, sản phẩm, thời hạn thực hiện, kinh phí mua sắm thiết bị và hợp tác quốc tế của đề tài, dự án, các điều chỉnh khác bộ ủy quyền cho Ban chủ nhiệm chương trình quyết định. Ðiều này sẽ làm tăng trách nhiệm của các cán bộ theo dõi các đề tài, dự án, khắc phục tình trạng "vô cảm" trong quản lý, đồng thời giúp cho Ban chủ nhiệm chương trình và các chủ nhiệm đề tài, dự án có phương án điều chỉnh kịp thời với các điều chỉnh nhỏ.

Thứ tư: Nghiệm thu, Quy chế tạm thời 41 quy định nghiệm thu hai cấp là cấp cơ sở và cấp Nhà nước. Quy chế 2006 - 2010 quy định nghiệm thu ba cấp: Ðối với đề tài, dự án vẫn tổ chức theo hai cấp (cấp cơ sở do tổ chức chủ trì đề tài, dự án thực hiện, cấp chương trình - nghiệm thu chính thức - do Ban chủ nhiệm chương trình thực hiện), và cấp Nhà nước (nghiệm thu toàn bộ chương trình) do Bộ KH và CN chủ trì thực hiện. Việc đánh giá nghiệm thu đối với toàn bộ chương trình sẽ căn cứ vào nhiệm vụ mà Bộ KH và CN đã giao cho Ban chủ nhiệm chương trình về mục tiêu, nội dung, kết quả phải đạt của chương trình.

Việc nghiệm thu toàn bộ chương trình sẽ giúp Bộ KH và CN có điều kiện đánh giá nghiệm thu kết quả toàn bộ chương trình "kỹ" hơn. Tiêu chí đánh giá nghiệm thu trên cơ sở văn bản giao nhiệm vụ của Bộ KH và CN với Ban chủ nhiệm chương trình sẽ được định lượng đến mức tối đa để việc đánh giá nghiệm thu được đúng và chính xác.

Thứ năm: Thành lập các hội đồng tư vấn tuyển chọn và đánh giá nghiệm thu. Bộ KH và CN ủy quyền cho Ban chủ nhiệm chương trình thành lập các hội đồng tư vấn tuyển chọn, đánh giá nghiệm thu và tổ chức các buổi làm việc của hội đồng dưới sự giám sát của Bộ KH và CN. Ðiều này sẽ khắc phục một phần tình trạng độc quyền trong việc đề xuất thành phần hội đồng để chi phối hoạt động các thành viên hội đồng.

Thứ sáu: Công khai thông tin, Quy chế 2006 - 2010 coi trọng vấn đề công khai những nội dung liên quan kinh phí đề tài, dự án, công khai thành phần các hội đồng tuyển chọn, đánh giá nghiệm thu, địa điểm, thời gian đánh giá nghiệm thu. Quy chế 2006 - 2010 quy định các thông tin nêu trên phải được thông báo rộng rãi trên các trang thông tin điện tử, trên các báo và tạp chí của Bộ KH và CN để những người quan tâm biết và đến dự.

Thứ bảy: Công tác thanh tra, kiểm tra trong quá trình thực hiện chương trình cũng như quy định chế tài đối với các tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt các nhiệm vụ KH và CN cũng như các nhiệm vụ KH  và CN không hoàn thành.

Nguồn: nhandan.com.vn

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.