Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ xuyên qua ba thế kỷ
Năm 1819, thương nhân Mỹ đã đến Việt Nam bằng đường biển do thuyền trưởng John Whire chỉ huy cập cảng sông Hàn, Đà Nẵng với mục đích thương mại thuần tuý.
Tháng 12 - 1932, dưới thời Tổng thống André Jackson đã cử đoàn ngoại thương do ông Everett Scotten cầm đầu đáp chiến thuyền thuộc Hạm đội của Mỹ vượt Thái Bình Dương đến neo đậu tại Vũng Lâm (Vũng Rô), cách sông Cầu, tỉnh Phú Yên khoảng 25km. Quan trình báo về triều. Vua Minh Mạng giao cho Quan viên ngoại Nguyễn Tri Phương và Lý Vạn Phúc đến tận nơi cùng với các quan tỉnh bản địa xem xét. Khi đến nơi gặp gỡ đoàn thương gia, ông Nguyễn Tri Phương và Lý Vạn Phúc viết sớ tâu về triều nói rõ: “Cử theo điều xét hỏi thì họ có ý muốn giao tiếp mua bán hàng hoá với Việt Nam. Lời lẽ của họ toàn là lối xã giao lịch thiệp và tôn kính”. Vua xem xong, liền xuống chiếu: “Cho phép 2 ông Nguyễn Tri Phương và Lý Vạn Phúc giao tiếp với họ như các quan của Sở Thương lạc. Họ phải tuân theo luật lệ của nước ta: Không được xây cất nhà trên đất liền để tạm trú. Làm gì trái với các việc trên đây tức là trái với pháp luật của ta”. Theo ông Everett Scotten, chuyến đi này ông đã mang theo thư của Tổng thống gửi vua Minh Mạng. Thư viết: “André Jackson, Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Kính gửi Hoàng đế và đấng chí thân./ Đây là bức thư nhờ ông André Jackson, một công dân xứng đáng của nước Mỹ đệ trình lên Hoàng thượng. Tôi xin Hoàng thượng gia ân bao bọc để Ông ta được làm tròn nhiệm vụ đã giao phó và nhờ Hoàng thượng đối xử tử tế với Ông ta, hãy thành thật tin những lời của Ông ta đệ trình, đặc biệt nhất, Ông ta sẽ làm cho Hoàng thượng tin cậy ở tình hữu nghị và tấm lòng luyến mến của chúng tôi đối với nước Việt Nam. Tôi xin cầu khẩn Thượng đế ban ơn cho Hoàng Đế và bậc chí thân của tôi./ Chứng nhận bức thư này, tôi đã đóng kèm với dấu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ./ Ngày 31 - 01 - 1831, năm độc lập thứ 56./ Ký tên: André Jackson”. Đoàn thương thuyền neo đậu ít ngày ở Vũng Lâm rồi thình lình nhổ neo rút đi. Bức thư của Tổng thống André Jackson cũng không được chuyển đến nhà vua Việt Nam.
Ngày 23 - 4 - 1835, một thương thuyền do đại uý E. P. Kennedy làm thuyền trưởng, có ông Everett Scotten từ giã New York và ngày 10 - 4 - 1836, thương thuyền cập cảng Trà Sơn (Đà Nẵng). Được tin báo về, Vua Minh Mạng giao cho hai ông Đào Trí Phú và Lê Bá Tu, Quan thị lang Bộ Công đảm nhận chức vụ Thương lạc quan vào Trà Sơn để giao tiếp. Vua Minh Mạng phán rằng: “Người Mỹ đã vượt hơn mười vạn trùng dương đến đây. Đó là vì tiếng tăm hùng mạnh và lòng quảng đại của triều đình ta”. Hai ông Phú và Tu đến Trà Sơn cho mời trưởng đoàn. Ông này bị bệnh, không thể lên yết kiến các quan được đã cử đại diện đến đáp lại. Thình lình trong ngày ấy, thương thuyền nhổ neo. Ông Đào Trí Phú dâng sớ về triều: “Họ thình lình đến rồi họ thình lình đi. Họ thiếu lễ độ…” Vua Minh Mạng phê vào sớ: “Chớ ngăn cản việc họ đến. Chớ rượt theo họ đi. Hãy giữ thái độ lễ phép của một nước văn hiến như nước ta”. Tác giả bài báo kể rõ: Lần này, ông Everett Scotten được Tổng thống giao toàn quyền giao tiếp với Việt Nam để ký một thương ước. Song ông Everett Scotten không giao tiếp có kết quả vì Ông bị bệnh. Ngày 21 - 5 - 1836, thương thuyền rời cảng Trà Sơn đi Ma Cao, ông Everett Scotten mất tại Ma Cao ngày 12 - 8 - 1836.
Năm 1870, vua Tự Đức phái sử thần Bùi Viễn mang quốc thư trình lên Tổng thống Ulyses Grant yêu cầu Mỹ giúp đỡ để ngăn chặn thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 15 - 12 - 1912, ông Nguyễn Tất Thành đến New York, Hoa Kỳ và sống ở đây đến đầu năm 1913 lại bôn ba sang nước khác tìm đường cứu nước.
Bác Hồ gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ: “Paris, ngày 18 - 6 - 1919/ Kính gửi: Ngài Tổng thống Hợp chủng quốc, đại biểu ở hội nghị Hoà Bình./ Thưa Ngài,/ Nhân dịp chiến thắng đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền./ Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi./ Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam/ Nguyễn Ái Quốc.
Chiều ngày 17 - 7 - 1945, đội “Con nai” của Sở Nghiên cứu Chiến lược tại Trung Quốc (OSS) gồm 5 người do thiếu tá trình báo Mỹ Edmund Tomat phụ trách đã nhảy dù xuống Tân Trào, Tuyên Quang. Sau 20 giờ, Bác Hồ đã có cuộc thảo luận dài với E. Tomat và Henry Prunier - sỹ quan của OSS. Người khẳng định Mặt trận Việt Minh là Tập hợp các Đảng phái chính trị được tổ chức với mục đích duy nhất là đánh đổ tất cả các chính quyền nước ngoài với đấu tranh cho tự do và độc lập hoàn toàn cho Đông Dương. Người cũng nhấn mạnh sự bất bình của nhân dân Việt Nam đối với người Pháp. Vì vậy, không thể để cho trung uý Monfor - một sỹ quan người Pháp cũng như những người Pháp khác vào hoạt động ở đây. Đội “Con Nai” hoạt động một thời gian ở chiến khu Việt Bắc. Bác Hồ đi công tác có gửi thư cho thiếu tá E. Tomat như sau: “Ngày 20 - 7 - 1945/ Gửi thiếu tá Tomat/ Ngài thân mến./ Tôi gửi Ngài chai rượu để uống cho ấm người. Tôi tin rằng Ngài sẽ thích thú./ Nếu ngài viết thư về Côn Minh hãy chuyển qua người chiến sĩ này./ Kế hoạch của Ngài về đầu hàng của Nhật (tối hậu thư, tấn công…) thật tuyệt vời, tôi tin rằng nó đem lại kết quả tốt./ Sẽ rất tốt, nếu Ngài chuyển kế hoạch đó bằng điện tín cho đại uý Holland./ Trong thời gian tôi đi vắng. Nếu cần gì xin Ngài nói với ông Văn hoặc ông Lã./ Chào thân ái CM Hồ”.
Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 02 - 09 - 1945, Bác Hồ đã trích câu bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập ngày 04 - 07 - 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
Tháng 8 - 1953, Bảo Đại ký 2 lệnh động viên 200.000 vào lính. Mỹ tăng viện cho Pháp là để xây dựng một quân đội quốc gia bù nhìn, với ý đồ sau này trực tiếp nắm lấy quân nguỵ. Mỹ càng lún sâu vào cuộc chiến tranh lâu dài, khốc liệt, hao người, tốn của ở Việt Nam. Trong thư chúc Tết Kỷ Dậu (1969), Bác Hồ đã chỉ rõ: “… Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào/ Tiến lên chiến sỹ đồng bào/ Bắc – Nam sum họp Xuân nào vui hơn”. Ngày 30 - 4 - 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, hoà bình, thống nhất Tổ quốc.
Ngay trong tháng 5 - 1975, Mỹ đã qua nước thứ 3, ngỏ ý muốn hai bên có quan hệ tốt. các quan chức hai bên đã có những cuộc tiếp xúc tiếp theo nhiều năm. Ngày 9 - 12 - 1999, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (EXIM BANK) chính thức ký Hiệp định bão lãnh khung và Hiệp định khuyến khích dự án đầu tư. Ngày 13 - 7 - 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết tại Washington.
Ngày 09 đế 14 - 12 - 2001, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, đã chứng kiến Lễ phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực ngày 10 - 12 - 2001 (theo giờ Washington). Tổng thống Bill Clinton thăm chính thức Việt Nam từ 16 đến 19 - 11 - 2001, đã đi bộ trên đường phố Hà Nội, ăn phở và trong buổi nói chuyện có đọc thơ Kiều: “Sen tàn, cúc lại nở hoa/ Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân”.
Ngày 13 - 5 - 2006, Việt Nam kết thúc đàm phán song phương nhiều năm với Hoa Kỳ về việc Việt Nam tham gia tổ chức Thương mại thế giới (WHO). Tổng thống George Waker Bush thăm chính thức nước ta từ 17 đến 20 - 11 - 2006. Chủ nhật (19 - 11 - 2006), G. W. Bush đi lễ nhà thờ cửa Bắc (Hà Nội), trò chuyện với đồng bào tại buổi lễ. G. W. Bush đi ô tô từ nhà nghỉ đến Trung tâm hội nghị quốc gia hạ kính bảo vệ, vẫy chào nhân dân Hà Nội.
Ngày 13 - 11 - 2006, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi “Danh sách cần quan tâm đặc biệt tới vấn đề tôn giáo trên thế giới”.
Ngày 20 - 12 - 2006 Tổng thống G. W. Bush ký ban hành “Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường vĩnh viễn với Việt Nam” mang mã số HR6111, mở ra một không gian quan hệ mới vô cùng rộng lớn giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI.








