Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1787 - 2007)
Trước hết là cột mốc đầu tiên được tạo dựng năm 1787 tại Paris, thủ đô nước Pháp bởi cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ thú vị giữa Hoàng tử Cảnh đang theo Giám mục Pigneau de Béhaine sang cầu viện vua Phpá và Thomas Jefferson, là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Pháp. Cú hích dẫn tới cuộc gặp gỡ này xuất phát từ mong muốn của Thomas Jefferson có được giống lúa cạn nổi tiếng đang gieo trồng trên quê hương Hoàng tử Cảnh để góp phần cải tạo môi trường sinh thái, mang lại ấm no, hạnh phúc cho người dân vùng ngập nước quê ông. Đáng tiếc là, mãi tới năm 1791 Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh mới về tới Nam kỳ. Những lời ước hẹn giữa Hoàng tử Cảnh, Th. Jefferson bị bỏ qua. Cơ hội đầu tiên bị bỏ lỡ đó dự báo sự trắc trở, gập ghềnh trên con đường hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ hiểu biết lẫn nhau và làm bạn với nhau.
Cột mốc thứ hai đánh dấu bởi sự xuất hiện lần đầu tiên một tàu buôn treo cờ Hoa Kỳ của Công ty Crowinshield of Salem, Massachusetts, một trong những công ty tàu biển lớn của bang New England do thuyền trưởng J. Briggs chỉ huy buông neo tại cảng Đà Nẵng ngày 21 - 5 - 1803. Theo lời khuyên của những người thuyền trưởng Pháp đang phục vụ cho vua Gia Long ở cảng Đà Nẵng, ngày 23 - 5 - 1803 J. Brígg thuê một chiếc thuyền năm tay chèo do một người Bồ Đào Nha dẫn đường đi Huế. Tại đây, cũng thông qua một vị thuyền trưởng người Pháp, vua Gia Long đã cấp cho thuyền trưởng Briggs giấy phép buôn bán tại tất cả các hải cảng nước ta. Có giấy phép trong tay, J. Briggs cho tàu chạy dọc bờ biển tìm chỗ buông neo buôn bán, nhưng vì gió mùa thổi mạnh, tàu không vào được các cảng biển. Ngày 10 - 6 - 1803, tàu Fame rời biển Việt nam đi Manila ( Philippines ) kết thúc sự xuất hiện và sự biến đi đột ngột của chiếc tàu mang cờ Mỹ đầu tiên trên hải cảng nước ta. Từ đó không thấy tái xuất hiện của chiếc tàu Fame với thuyền trưởng J. Briggs. Một cơ hội buôn bán giữa hai nước đã được nhem nhó, được khởi động bị bỏ qua. Xin nhớ là giấy phép buôn bán trên tất cả các hải cảng Việt Nam mà thuyền trưởng nhận được từ vua Gia Long được cấp vào cuối tháng 5 - 1803, tức là chỉ 6 tháng sau khi Gia Long lên ngôi. Thời điểm đó hết sức thuận lợi bởi Gia Long đang có thái độ mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt đối với các nước phương Tây.
Tháng 12 - 1832, chiếc tàu Peacok chở đặc phái viên Edmund Robert magn theo Quốc thư của Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson và Bản Dự thảo Hiệp ước Thương mại với Việt Nam, vì gió mùa thổi mạnh, không vào được trong cảng, nên buông neo ngoài khơi Đà Nẵng, rồi trôi dạt về phía Nam và cuối cùng ghé vào cảng Vũng Lấm, Phú Yên là cột mốc thứ ba. Từ ngày 17 - 1 đến ngày 8 - 2 - 1833, hai bên đã làm việc với nhau trên tàu, nhưng không hiểu được nhau. Không thành trong chuyến công cán đầu, tháng 2 - 1835 với cương vị như trước E. Robert cùng với hai con thuyền Peacok và Enterprise hướng tới bờ biển Việt Nam và cuối cùng đã buông neo ở vịnh Đà Nẵng ngày 14 -5 - 1835. Cũng như trước, hai bên đã làm việc với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung. E. Robert rời Việt Nam trong sự nuối tiếc. Hai chuyến đi tới Việt Nam của Đặc phái viên E. Robert dưới thời Tổng thống A. Jackson nhằm ký kết thương mại và thiết lập mối quan hệ buôn bán lâu dài với nước ta đã không thành công. Cơ hội tốt đẹp đó trôi qua bởi chính sách đóng cửa của nhà Nguyễn.
Năm 1945, cột mốc thứ tư. Sau Cách mạng tháng Tám thành công và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, với cương vị là Chủ tịch và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã quan hệ trực tiếp với Chính phủ Hoa Kỳ bằng những công hàm, thư, điện gửi Tổng thống H. Truman và Ngoại trưởng G. Byrnes. Trong tất cả những văn kiện chính thức đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của Hoa kỳ trong việc ủng hộ nền độc lập của Việt Nam vừa mới giành được từ tay Nhật, trong việc dàn xếp những xung đột ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt trong việc ngăn chặn thực dân Pháp quay lại thiết lập nền thống trị của chúng trên đất Việt Nam, trong việc giúp vốn, công nghệ và chuyên gia cho Việt Nam phát triển đất nước. Đó là một sự nỗ lực to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt nam trong suốt 16 tháng, khởi đầu từ bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống H. Truman ngày 29 - 9 - 1945, khép lại buổi tiếp Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ A. Moffat ngày 7 - 12 - 1946 tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Những nỗ lực đó là đơn phương, không được hồi đáp. Thời đó, Chính phủ Hoa Kỳ, xuất phát từ lợi ích của nước mình, từ những định kiến sai lầm và thiển cận về Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã im lặng trước những đòi hỏi chính đáng của Việt Nam. Một cơ hội thiết lập quan hệ giữa hai nước đã bị bỏ qua từ phía Chính phủ Hoa Kỳ. Động thái đó dưới thời Tổng thống H. Truman đã đẩy hai nước từ chưa hiểu nhau tới đối đầu hàng chục năm với biết bao xương máu của nhân dân hai nước đã đổ xuống.
Năm 1968, cột mốc thứ năm. Do sức ép của dư luận tiến bộ, của phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ, cộng với sự thất bại trên chiến trường, đặc biệt sau thất bại trong Tết Mậu Thân (1968), chính quyền Giôn Sơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện ở miền Bắc (31 - 3 - 1968), ngồi vào bàn đàm phán với các điều kiện do ta đưa ra. Một cục diện mới giữa Việt Nam và Hoa kỳ xuất hiện - vừa đánh vừa đàm. Ngày 10 - 5 - 1968, đã diễn ra cuộc tiếp xúc chính thức giữa Việt nam và Hoa Kỳ tại Paris . Đây là sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử quanhệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ nói riêng và trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung. Cuộc hoà đàm tại Paris giữa Việt Nam và Hoa Kỳ kéo dài từ tháng 5 - 1968 đến tháng 2 - 1973, với hàng trăm phiên họp công khai và bí mật, những phiên họp toàn thể và những cuộc tiếp xúc cá nhân, khi họp hai bên, lúc họp bốn bên với những cuộc đấu trí hết sức căng thẳng (1).
Hiệp định Paris, 1973, là cột mốc thứ sáu trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Ngày 27 - 1 - 1973, Hiệp định Paris được ký kết tại Trung tâm Kléber là kết quả cuối cùng của nhiều cuộc đàm phán, thương lượng diễn ra từ ngày 8 - 10 - 1972 đến ngày 20 - 1 - 1973, dưới các khía cạnh chính trị, ngoại giao, pháp lý, trong sự giao tiếp lịch sự, trong những đối đáp nẩy lửa, thậm chí trong tiếng bom man rợ. Bốn bên (Việt Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, Hoa kỳ, Chính quyền Sài Gòn) đều có phần thắng lợi trong Hiệp định Paris . Theo cách diễn đạt hóm hỉnh của anh em nhà Kalb, phần thắng của các bên là: “Nixon được tù binh trở về. Lê Đức Thọ được Mỹ rút ra. Thiệu được giữ lại chính quyền và Chính phủ Cách mạng Lâm thời (Chính phủ Việt cộng) được một mức độ hợp pháp chính trị ở Việt Nam . Mỗi người được một cái gì đó, không có ai được tất cả mọi cái” (2).
Cột mốc thứ bảy là Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995. Đây là sự kiện cực kỳ quan trọng trong lịch sử quan hệ của hai nước bởi đây là sự kiện vạch mốc, phân kỳ lịch sử từ đối đầu sang đối tác trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước. Ngày 11 (theo giờ Washington) ngày 12 (theo giờ Hà Nội) tháng 7 năm 1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường quan hệ với Việt Namvới những lời như sau: “Hôm nay tôi loan báo việc bình thường hoá các quan hệ ngoại giao với Việt Nam . Từ thời gian đầu của chính quyền này, bất kỳ sự cải thiện nào trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đều dựa vào tiến bộ đạt được về vấn đề người Mỹ bị mất tích trong khi làm nhiệm vụ hay bị bắt làm tù binh. Năm ngoái tôi đã huỷ bỏ lệnh cấm vận buôn bán đối với Việt Nam để đáp lại sự hợp tác của họ, và nhằm làm tăng cường sự nỗ lực của chúng ta bảo đảm tìm kiếm hài cốt của những người Mỹ bị mất tích và xác định số phận của những người mà hài cốt của họ vẫn chưa tìm thấy”.
Như vậy, để đi tới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có sự nỗ lực từ hai phía: Nỗ lực của Việt Nam trong chương trình POW/ MIA và sự nới lỏng từng phần cấm vận đối với Việt Nam dưới Chính quyền George H. W Bush và năm 1994 Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận.
Tại Hà Nội, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra tuyên bố, trong đó có đoạn: “Tuyên bố của Tổng thống Bill Clinton công nhận ngoại giao và thiết lập mối quan hệ bình thường hoá với Việt Nam là một quyết định quan trọng, phản ánh nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ, muốn khép lại quá khứ chiến tranh, xây dựng mối quan hệ bình thường hữu nghị và hợp tác với Việt Nam. Quyết định này phù hợp với xu thế hiện nay của tình hình quốc tế, góp phần thiết thực vào sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á cũng như trên thế giới”.
Hai năm sau, 7 - 1997 hai nước trao đổi Đại sứ đầu tiên tại thủ đô mỗi nước. Tháng 11 - 1997, mở Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh và Tổng lãnh sự quán Việt Namtại San Francisco .
Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton thăm chính thức Việt Namnăm 2000 cắm cột mốc thứ tám trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Từ ngày 16 đến ngày 19 - 11 - 2000, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton thăm chính thức Việt Nam . Cùng đi với Tổng thống, phu nhân và con gái còn có nhiều quan chức cao cấp trong chính phủ và các doanh nhân Mỹ. Trong những ngày lưu lại Việt Nam, Tổng thống và phu nhân đã đi thăm nhiều nơi tại hai thành phố lớn nhất của Việt nam là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, gặp gỡ nhiều quan chức cao cấp trong chính phủ Việt Nam, nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thầy cô và sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, chứng kiến quá trình khai quật nơi máy bay Mỹ bị bắn rơi. Tổng thống Bill Clinton và phu nhân cùng các vị trong Đoàn đã tới dự cuộc chiêu đãi của Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương. Tại đây, trong Đáp từ Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã bày tỏ thiện cảm của ông đối với Chính phủ và nhân dân Việt nam và tương lai tươi sáng mà hai nước hướng tới trong hy vọng. Đáp từ của Tổng thống có đoạn: “Chúng tôi vinh dự được cùng các ngài viết lên một chương mới trong quan hệ giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam , và chúng tôi biết ơn vì chương sử mới này đã có một khởi đầu tốt đẹp. Quả thực, lịch sử mà chúng tôi đã để lại sua mình rất đau buồn và nặng nề. Chúng ta không được quên nó. Nhưng chúng ta cũng không được để nó chi phối chúng ta. Quá khứ chỉ là cái đến trước tương lai, quá khứ không phải là cái quyết định tương lai”.
Chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã để lại những ấn tượng sâu đậm khó phai trong ký ức người dân Việt Nam .
Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005, là cột mốc thứ chín trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, nhận lời moìư của Tổng thống G. Bush, Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải sang thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 19 đến ngày 25 - 6 - 2005. Cùng đi với Thủ tướng còn có nhiều quan chức cao cấp trong Chính phủ và 80 doanh nhân. Trong chuyến thăm chính thức này, Thủ tướng Phan Văn Khải mang tới Hoa Kỳ một Thông điệp quan trọng: Việt Nam chủ trương xây dựng với Hoa Kỳ quan hệ đối tác xây dựng, ổn định bền vững, và hữu nghị hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi. Trong thời gian thăm Hoa Kỳ, Thủ tướng Phan Văn Khải đã tới thăm nhiều thành phố (Seatle, Washington D.C, New York, Boston), đến thăm và trò chuyện với các nhà lãnh đạo của tập đoàn kinh tế lớn như Hãng Boing, tập đoàn Microsoft, các trường Đại học và viện nghiên cứu danh tiếng như trường Đại học Harvard và Học viện kỹ thuật Massachusett, đã gặp gỡ với những quan chức cao cấp trong chính quyền G. Bush như Phó Tổng thống Disk Cheney, Ngoại trưởng Condoleeza Rice, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Donald Rumsfeld và ngày 23 - 6 rung chuông tại thị trường chứng khoán New York, nơi được mệnh danh là “trái tim kinh tế thế giới”. Trên tất cả là cuộc hội đàm giữa Tổng thống G. Bush và Thủ tướng Phan Văn Khải tại phòng bầu dục Nhà Trắng ngày 21 - 6 - 2005. Sau cuộc hội đàm hai nhà lãnh đạo đã ra Tuyên bố chung. Trong Tuyên bố chung hai bên khẳng định “nét đặc trưng của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam là tôn trọng lẫn nhau, gia tăng quan hệ kinh tế và thương mại ở khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, gia tăng hợp tác trên hàng loạt các vấn đề hai bên cùng quan tâm. Cả hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ý kiến tiếp tục đối thoại về những vấn đề còn có sự khác nhau… khẳng định chủ trương đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới, thông qua việc phát triển mối quan hệ đối tác xây dựng hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi”.
Chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải tạo một đà tốt để quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ bước vào một giai đoạn phát triển mới hiệu quả hơn, phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước, lợi ích của hoà bình, hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới.
Năm 2006, khép lại với chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ George Bush nhân Hội nghị cấp cao Diễn đàn APEC diễn ra tại Hà Nội vào trung tuần tháng 11 - 2006. Chuyến thăm chính thức Việt nam của Tổng thống G. Bush tạo dựng một cột mốc lớn, cột mốc thứ mười trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ suốt trên hai thế kỷ đầy những biến động và thăng trầm.
Còn phải kẻ thêm chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết từ 18 - đến 23 - 6 - 2007. Cùng đi có 120 doanh nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế. Cuộc hội đàm với Tổng thống G. W Bush, gặp gỡ ở Thượng nghị viện và Hạ viện Hoa Kỳ, tiếp xúc với giới đầu tư tài chính Mỹ đã đưa đến việc ký kết nhiều văn bản hợp tác và thương mại, đã mở ra một triển vọng mới tỏng quan hệ giữa hai nước.
Giống như lịch sử đất nước, lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là một dòng chảy không ngừng nghỉ, liên tục trong bốn thế kỷ được đặc trưng bởi ba khúc quan trọng có thể đặt tên là chưa hiểu nhau, đối đầu và đối tác.
Chú thích
1, 2 Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ. Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris .Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.








