Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/08/2010 23:11 (GMT+7)

Quan điểm của Thái Lan về xã hội dân sự

Vào đầu những năm 1990, thuật ngữ “XHDS” được quan tâm trở lại trên thế giới và đã thâm nhập vào Thái Lan . “Ban đầu, các học giả sử dụng thuật ngữ như NGO (các tổ chức phi chính phủ) và “tầng lớp trung lưu” (middle class) để nói đến XHDS” (1). Sau đó, các NGO và XHDS được nhiều học giả nhiên cứu về XHDS ở Thái Lan như Amara Pongsapich, Chaianan Samudavanija, Gawin, LoGerfo sử dụng như các thuật ngữ mang nghĩa là XHDS(2). Từ cuối những năm 1990, một số nhà lãnh đạo Thái Lan cũng đã sử dụng thuật ngữ Prachachon sangkhomhoặc prachasangkhomđể chỉ XHDS ở nước này.

Ở Thái Lan, một thuật ngữ khác mang nghĩa XHDS cũng đã được sử dụng - thuật ngữ prachakhom.Về mặt ngữ nghĩa, prachakhomtrong tiếng Thái có nghĩa là cộng đồng hoặc công xã. Ra đời trong bối cảnh của “Hiến pháp nhân dân 1997” theo một sáng kiến của giáo sư Prawet Wasi, prachakhom có nghĩa là Hội công dân tỉnh (3)(provincal civic assembly). Tuy nhiên, với phạm vi hẹp của nó, từ prachakhomsau này không được sử dụng rộng rãi để chỉ XHDS ở Thái Lan, kể cả trong giới học giả lẫn giới chính trị ở Thái Lan.

1. Quan điểm của Nhà nước Thái Lan về XHDS

1.1. Khung pháp lý cho hoạt động XHDS

a. Cơ sở pháp lý cho hoạt động của XHDS

Hiến pháp đầu tiên của Thái Lan dưới chế độ quân chủ lập hiến năm 1932 và các Hiến pháp sau đó của Vương quốc này (1946, 1968, 1978, 1991, 2007) đều chứa đựng những cơ sở pháp lý căn bản cho sự phát triển của XHDS, cụ thể hơn, đó là các quyền tự do của công dân được quy định trên các lĩnh vực tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1997 được đánh giá rất cao trên khía cạnh dân chủ khi xuất hiện hai cơ quan là Uỷ ban nhân quyền quốc gia(thuộc Quốc hội) và Uỷ ban chống tham nhũng quốc gia.

Cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của hộinói chung ở Thái Lan là Luật Dân sự và Ngoại thương(ra đời năm 1937 và lần sửa đổi gần đây nhất là năm 1992). Luật này đưa ra những quy định cụ thể về thành lập và hoạt động của Hội (association) và Quỹ (foundation). Trong khi Quỹ được quy định rõ mục đích là làm lợi cho cộng đồng (public benefit) trên các lĩnh vực hoạt động từ thiện, tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá, khoa học, giáo dục… chứ không phải là chia sẻ lợi nhuận (Điều 110) thì Hội chỉ bao gồm các nội dung đăng ký, đăng ký tư cách thành viên và tổ chức hội họp. Luật cũng chỉ rõ các thủ tục đăng ký hoạt động của Quỹ. Theo luật này, Văn phòng Cục cảnh sát quốc gia chịu trách nhiệm về việc thành lập và giám sát các Hội, Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về các Quỹ.

Các luật quy định hoạt động của các hội cụ thểở Thái Lan khá đa dạng và trải rộng trên nhiều lĩnh vực với các luật như Luật Sangha (Trật tự Phật giáo), Luật về hợp tác xã 1968, Luật các tổ chức tôn giáo 1969, Luật về Viện cao học tư thục 2003, Luật nhà máy sản xuất vũ khí của tư nhân 2007, Luật Hội nhân dân 2007, Luật về trường học tư thục 2007, Luật hội phát triển chính trị 2008… Đơn cử, Luật về Hợp tác xã1968 đặt cơ sở pháp lý cho sự ra đời, hoạt động, cơ chế tài chính, cơ chế tham gia của người dân vào các hoạt động sinh lợi cho cộng đồng; Luật Hội nhân dân (4)2007 tạo điều kiện để tiếng nói của nhân dân đến được các nhà hoạt động chính sách cũng như sự tham gia của người dân đến quá trình soạn thảo cũng như thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, các chính sách kinh tế, xã hội, luật pháp của nhà nước; Luật Hội phát triển chính trị(5)năm 2008 tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia của XNDS (các tổ chức XHDS, các tổ chức của nhân dân, các NGO…) vào việc tiếp cận thông tin và kết hợp hoạch định chính sách ở cấp độ địa phương cũng như nhà nước, các quyết định chính trị cũng như kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước.

b. Những hạn chế về mặt pháp lý đối với hoạt động của XHDS

Mặc dù khung khổ pháp lý của Thái Lan nhìn chung là cơ sở căn bản cho sự hoạt động của XHDS. Tuy nhiên, đó là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với sự ra đời và hoạt động của XHDS ở nước này.

Ví dụ, Luật Hội phát triển chính trịđã có nỗ lực hạn chế sự tham gia của nhà nước vào cơ cấu của Hội cũng như tăng cường vai trò độc lập trong hoạt động của các thành viên. Tuy nhiên, ở thời kỳ mới hình thành, Chủ tịch Quốc hội vẫn nắm giữa chức vụ Chủ tịch Hội phát triển chính trị (Điều 39). Một hạn chế khác của Hội này là không được tự chủ về tài chính (không được phép gửi tiền ngân hàng lấy lãi, không được nhận tiền và vật chất của các NGO và nước ngoài) vì các khoản chi tiêu của họ đến từ ngân sách nhà nước (Điều 31). Một ví dụ khác, Luật các tổ chức tôn giáo1969 mặc dù đã trao cho những người đứng đầu các tổ chức tôn giáo những ưu đãi như khẳng định sự bảo trợ của chính phủ đối với các tôn giáo, nhưng Luật này ( thông qua Ban các vấn đề tôn giáo) chỉ ra rằng chỉ công nhận tôn giáo mới nếu tôn giáo này có trên 5000 tín đồ (theo số liệu thống kê của nhà nước). Đặc biệt từ năm 1984, chính phủ Thái Lan duy trì chính sách không công nhận tôn giáo mới (6).

Vì những lý do như an ninh, bảo vệ xã hội, Thái Lan đã ban hành nhiều luật nhiều khi bị đánh giá là gây trở ngại cho nhiều hoạt động của XHDS như Luật cai quản địa phương1904 (lần sửa đổi gần đây nhất là vào năm 1999), Luật bảo vệ xã hội 1990, Luật An ninh nội địa 2007…

Đơn cử, trong khi Sắc lệnh khẩn cấp về quản lý công trường trong trường hợp khẩn cấpnăm 2005 quy định việc “bắt người cần xin phép toà án có quyền hạn xét xử hoặc toà án tội phạm” (Điều 12) thì Luật an ninh nội địađưa ra các quy định về cấm rời khỏi nơi cư trú, cấm sử dụng các phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, cấm hội họp và tụ tập ở các tụ điểm công cộng trong những trường hợp được cho là ảnh hưởng tới anh ninh mà chỉ cần sự ủng hộ của Nội các (Điều 17).

1.2. Quan điểm của các chính phủ Thái Lan về XHDS

Kể từ Tháng Năm đến tối năm 1992, các chính phủ Thái Lan đã có nhận thức và quan tâm nhất định đối với sự tồn tại và hoạt động của XHDS nước này. Chúng ta sẽ xem xét chính sách của các chính phủ Thái Lan dưới thời các thủ tướng Chuan Leekpai, Thaksin Shinawatra và tướng Surayud Chulanont.

Trong Chính sách của chính phủđược Thủ tướng Chuan Lekpai trình bày trước Hội đồng Bộ trưởng ngày 20 tháng 11 năm 1997 (7), thuật ngữ được ông sử dụng có nghĩa dân sự “phollarual), ở các phạm trù như dịch vụ dân sự, các quyền dân sự (civil rights), viên chức dân sự (civil servants) với các nghĩa đối lập với quân sự. Các thành phần của XHDS như thành phần tư nhân, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) đã được nhắc đến nhiều, được bảo đảm nhiều quyền lợi và có vai trò quan trọng trong chính sách của chính phủ, cụ thể trên các lĩnh vực chính sách về các vấn đề chính trị, quản lý, quản lý dịch vụ dân sự,an ninh và ngoại giao, chính sách kinh tế và phát triển xã hội.

Có được môi trường pháp lý thuận lợi từ Hiến pháp 1997, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ tám (8)(1997-2001) của Thái Lan thừa nhận vai trò của XHDS trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của nước này. Một trong những mục tiêu quan trọng của Kế hoạch này là “…Cải cách hệ thống quản lý công để cho phép sự tham gia mạnh mẽ hơn của các tổ chức phi chính phủ, thành phần tư nhân, các cộng đồng và toàn thể nhân dân vào quá trình phát triển quốc gia”, cụ thể các lĩnh vực như phát triển trí lực và kỹ năng lao động; phát triển y tế; phát triển các nhóm cư dân gặp khó khăn; củng cố gia đình và cộng đồng; phát triển các hệ thống an sinh xã hội; củng cố văn hoá dân tộc, tăng cường năng lực cộng đồng trong phát triển địa phương; tăng cường cơ hội việc làm cho khu vực nông thôn; quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển môi trường…

Trong Chính sách của Chính phủ(19) được trình bày trước Quốc hội ngày 26 tháng 2 năm 2001, lần đầu tiên một nhà lãnh đạo Thái Lan (Thủ tướng Thaksin Shinawatra) sử dụng thuật ngữ XHDS trong chính sách của chính phủ cho dù thuật ngữ này được ông sử dụng một cách dè dặt. Ông vẫn còn phân biệt XHDS với thành phần tư nhân - pak ekachon, các tổ chức của nhân dân - ongkon prachachoncũng như các NGO). Tuy được đề cập trực tiếp một cách khá dè dặt nhưng vị trí của XHDS đã được đề cao khi cùng với người nhân dân địa phương và các tổ chức tư nhân, XHDS được “khuyến khích…tham gia vào việc quản lý địa phương” (10)mà cụ thể là tham gia vào chính sách phi tập trung hoá chính quyền địa phương ở Thái Lan. Đặc biệt, người dân được khuyến khích thành lập các tổ chức nhân dân và đóng vai trò tham gia trong việc ngăn chặn tham nhũng và các hành động phi pháp (mục 15.4 (3) và tham gia vào tiến trình xây dựng luật pháp và xây dựng chính sách (mục 15.5 (4)).

Mặc dù là người đứng đầu uỷ ban cải cách lâm thời sau khi lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Thủ tướng Thaksin năm 2006 nhưng Chính phủ của Thủ tướng Surayud Chulanont lại có chính sách cụ thể hơn đối với XHDS. Trong Chính sách của chính phủ(11)được ông trình bày trước Quốc hội ngày 3 tháng 11 năm 2006, Thủ tướng Surayud Chulanont đã tách biệt các thuật ngữ như XHDS ( civl society), các tổ chức phi chính phủ ( NGOs)thành phần tư nhân ( private sector), các tổ chức của nhân dân ( people’s organizations),các cộng đồng địa phương (local communities). Ông nhắc trực tiếp đến “XHDS” một cách thường xuyên hơn (8 lần - trong khi chính sách của chính phủ Thaksin chỉ một lần nhắc đến XHSD). Vai trò của XHDS cũng được chỉ ra rõ ràng. Ví dụ, thành phần tư nhân được coi là có vai trò đi đầu trong các chính sách kinh tế (mục 2), là thành phần tư nhân được coi là đầu tàu chính (main driver) trong việc xúc tiến và tăng cường việc xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của Thái Lan (mục 2.2.3), tham gia vào chương trình cải cách giáo dục (mục 3.3)…

Như vậy, mặc dù có những nhận thức khác nhau về XHDS nhưng về cơ bản, chính sách của các chính phủ cho thấy, XHDS ở Thái Lan được ủng hộ tham gia vào nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế, xã hội nước này như phát triển cộng đồng, đóng góp xây dựng chính sách…

2. Quan điểm của quần chúng về XHDS

2.1. Quan điểm của giới học thuật

Như đã nói ở trên, mặc dù thuật ngữ XHDS mới được du nhập vào Thái Lan vào giữa những năm 1990 nhưng việc nghiên cứu về XHDS của các học giả Thái Lan cũng như các học giả nước ngoài về XHDS Thái Lan đã diễn ra rất sôi động. Với đặc thù của một quốc gia thường xuyên có sự nắm quyền của giới quân sự, giới học thuật chủ yếu xem xét XHDS ở nước này trên quan điểm chính trị. Khi tiếp cận XHDS từ quan điểm chính trị, giới học thuật nghiên cứu về XHDS ở Thái Lan về cơ bản coi XHDS là lực lượng không thuộc Nhà nước, nó có thể là lực lượng dân chủ, phong trào dân chủ, phong trào của người nghèo…

Với quan điểm coi XHDS là phong trào nhân dân, Chalida Tajaroensuk (12)cho rằng sở dĩ XHDS quan trọng vì nó (1) cân bằng và kiểm tra quyền lực của chính phủ; và (2) tạo ra sự cai trị tốt cho đất nước. Theo bà, một nền cai trị tốt cần một XHDS mạnh và để có được một XHDS mạnh thì nhân dân phải được tổ chức và giáo dục tốt…Cùng nhìn nhận XHDS trên khía cạnh nhân dân, Robert B. Albritton và Thawilwadee Bureekul cho rằng “XHDS đang nổi lên ở Thái Lan được hình thành từ yêu cầu của toàn thể những người bị thiệt thòi về quyền lợi cần có một tiếng nói trong xã hội chính trị. Theo đó, Diễn đàn của người nghèo (Forum of the Poor) là một ví dụ về việc các hội trao cho người ngèo tiếng nói trong cuộc đấu tranh cho sự phát triển của nền dân chủ chính trị” (13)

Khi xem xét XHDS ở Thái Lan dưới lăng kính dân chủ và phong trào dân chủ, hai học giả này (Robert B. Albritton và Thawilwadee Bureekul) không nhất trí việc định nghĩa XHDS là nguyên nhân của dân chủ mà coi nó như là mầm mống phát sinh của việc tham gia vào các hoạt động của xã hội chính trị như bầu cử, tham gia vào các tổ chức chính trị, và các hoạt động khác đóng góp cho sự lành mạnh của nền dân chủ (14). Với cách nhìn nhận đó, các học giả này nhận định rằng XHDS là chính trường bao gồm các nhóm, các phong trào và các hội độc lập với nhà nước và các đơn vị kinh tế, hoạt động như là cầu nối giữa nhà nước và xã hội chính trị và đơn vị gia đình của tổ chức xã hội(15).

Nhìn nhận XHDS như là một lực lượng dân chủ hoá(16), Michael H. Nelson coi XHDS là “nền chính trị nhân dân” (kanmueng phak prachachon), với các phong trào dân chủ ở Thái Lan như Phong trào sinh viên (1973), sự kiện Tháng Năm đen tối 1992, cuộc đảo chính lật đổ Thủ tướng Thaksin Shinawatra 2006…Ông cũng không quên chỉ ra rằng trong các phong trào này, các “NGO đóng vai trò như là người giúp đỡ về mặt tổ chức và thông tin liên lạc” (17).

Với quan điểm cho rằng trong thế giới hiện đại, chức năng của nhà nước sẽ bị san sẻ và vai trò của XHDS và các tổ chức cộng đồng khác được mở rộng và chúng có thể quan tâm tốt hơn các vấn đề hàng ngày trong cộng đồng (18), học giả Pasuk Phongpaichit đã đưa ra hai cách tiếp cận về XHDS hướng tới quá trình “dân sự hoá nhà nước”. Đó là cách tiếp cận về XHDS từ tầng lớp trung lưu và từ người dân ở nông thôn Thái Lan, ở cách tiếp cận thứ nhất, bà hướng niềm tin vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá và dân chủ đại diện tự do khi viết rằng: “cách tiếp cận này sử dụng thuật ngữ pracha sangkhomvới nghĩa là XHDS và nó đã có tác dụng trong việc tăng cường các tổ chức cộng đồng, đặc biệt là ở các trung tâm thành phố thuộc tỉnh” (19), ở cách thứ hai, bà cho rằng đó là “do có ít mối quan tâm, và sự lạc quan đối với việc thay đổi nhà nước thông qua chính trị hoặc thông qua những quy tắc mới. Đúng hơn thì nó chỉ tập trung vào sự đấu tranh bên trong XHDS - để bảo vệ và mở rộng các quyền địa phương, để mở rộng bầu trời chính rtị cho các nhóm địa phương, để phá bỏ văn hoá thống trị của quan chức nhà nước hay ông chủ. Những đấu tranh này được thực hiện bởi những cuộc biểu tình, phản đối, mạng lưới và những cuộc tấn công vào những thuyết trình truyền thống mang tính thống trị. Chiến lược này đỏi hỏi phải có những cuộc tranh cãi bình thường với nhà nước – đặc biệt là đối với sự kiểm soát gây tranh cãi của nhà nước về nguồn nước, đất, rừng, những nguồn sống của con người” (20).

Mặc dù có nhiều quan điểm về XHDS nhưng tựu trung, giới học thuật chủ yếu dựa trên cách tiếp cận theo chủ nghĩa tân tự do. Theo đó, vấn đề đấu tranh của người dân và vấn đề dân chủ hoá nhà nước được coi trọng. Điều này có thể được giải thích bởi nền chính trị ở Thái Lan, một nền chính trị có rất nhiều biến động với rất nhiều cuộc đảo chính, nắm quyền của giới quân sự.

Nhấn mạnh và đánh giá cao vai trò của XHDS trong xã hội Thái Lan nhưng phần lớn các học giả không hài lòng đối với các chính sách của nhà nước đối với vấn đề XHDS. Dưới đây là quan điềm của giới học thuật về một số văn bản luật quan trọng như Dự thảo Hiến pháp 2007, Luật Sangha và Luật tội phạm mạng 2007.

Dự thảo Hiến pháp 2007của Thái Lan từ khi ra đời đã bị các học giả đại diện của các trường đại học lớn ở Thái Lan như Đại học Midnight, Đại học Mahasarakham, Đại học Chulalongkorn, Đại học Thammasat phản đối gay gắt. Theo họ, Dự thảo hiến pháp này (sau này đã trở thành Hiến pháp chính thức của Vương quốc Thái Lan 2007) sẽ “đưa đất nước (Thái Lan ) trở lại nền chính trị cũ vốn đã làm cho xã hội Thái yếu đi, làm cho Thái Lan khó thay đổi và ngăn cản hoàn toàn các cải cách chính trị, một nỗ lực đang diễn ra vốn được bắt đầu với Hiến pháp nhân dân năm 1997 (21). Những học giả này chỉ ra những điểm hạn chế như Dự thảo đã xoá bỏ quyền của người dân trong việc bầu các nghị sĩ (Điều 112), cho phép các quan chức nhà nước bổ nhiệm các cơ chế tổ chức độc lập (Điều 110)…,những điều được cho là sẽ làm xáo trộn các quyền hành pháp và luật pháp.

Phật giáo được coi là quốc giáo của Thái Lan với khoảng 94% dân số là tín đồ của tôn giáo này. Tuy vậy, Luật Shangha– một Luật được đặt ra để quản lý Trật tự Phật giáo – lại bị một số học giả nghiên cứu về XHDS ở Thái Lan đánh giá như là các công cụ để nhà nước quản lý chặt chẽ hơn hoặc áp dụng việc quản lý mạnh hơn đối với Shangha. Học giả Theorode Mayer đánh giá về các Luật Shangha như sau: “Shangha được cơ cấu lại năm 1902 dưới thời vua Chulalongkorn, theo đó Shangha bị đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn của nhà nước và kết quả là một cơ cấu mang tính cấp bậc và tập trung hoá mạnh mẽ hơn của Shangha đã ra đời; cuộc cách mạng 1932 đã tạo điều kiện để dân chủ hoá cơ cấu Shangha và sự độc lập mạnh mẽ hơn của tổ chức này thông qua Luật Shangha 1941; Luật Shangha 1962dưới thời Thủ tướng Sarit lại tái áp dụng sự kiểm soát mạnh mẽ hơn của nhà nước, sự tập trung hoá và một cơ cấu cấp bậc cao hơn đối với Shangha” (22).

Một luật rất mới ở Thái Lan – Luật tội phạm mạng 2007– cũng bị giới học thuật chỉ trích rất nhiều. Đại diện cho những quan điểm phê phán đó là học giả Ubonrat Siriuvasak. Theo học giả này, Luật tội phạm mạng được thông qua bởi một quốc hội không được bầu mà do những người đảo chính bổ nhiệm nên nó chỉ là công cụ để loại bỏ những chỉ trích đối với nền quân chủ và quân đội(23).

2.2.Quan điểm của một số thành tố XHDS

a. Người Thái Lan với nhà chùa

Phật giáo ở Thái Lan là Phật giáo nhập thế, và giới nghiên cứu về Phật giáo ở nước này cho rằng không thể tách đời sống xã hội của Thái Lan ra khỏi Phật giáo mà đại diện của nó là nhà chùa. “Mặc dù các Shangkha (Shangha) luôn chịu sự kiểm soát của chính phủ thông qua những tổ chức hành chính của nhà nước tồn tại song song với các tổ chức của mình” và nhiều chùa ở Thái Lan nằm dưới sự bảo trợ của Hoàng gia nhưng về cơ bản, chùa ở Thái Lan không phải là cơ quan hành chính của nhà nước nên nó (và các hoạt động) vẫn là một chủ thể của XHDS ở nước này.

Ở các thành phố của Thái Lan, mặc dù cuộc sống hiện đại làm cho người dân ít có điều kiện đến chùa hơn nhưng “những ngày nghỉ cuối tuần, dân phố vẫn có thói quen đến chùa với lòng thành kính… (24), ở vùng nông thôn, “chùa chiền vẫn giữ vai trò là trung tâm của xã hội đậm nét tôn giáo”. Nói cách khác, Phật tử ở Thái Lan vẫn tham gia đều đặn vào các hoạt động của nhà chùa. Ngoài ra, sự thu hút của nhà chùa đối với Phật tử Thái Lan đến từ các hoạt động hỗ trọ phát triển và các hoạt động xã hội khác như giúp xây dựng đường sá, bảo vệ môi trường, thành lập các trung tâm chữa trị cho người nghiện ma tuý, những nhà từ thiện chăm sóc người già và những bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn cuối. Đặc biệt hơn, Phật giáo còn tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng đạo đức cho cả các nhân viên và quan chức nhà nước như Chương trình phát huy đạo đức cho hàng ngũ cảnh sát, các khoá đào tạo nhân viên toà án, thẩm phán…Do đó, với tư cách là một chủ thể của XHDS ở Thái Lan, nhà chùa đã thu hút được sự tham gia của đa số dân chúng Thái Lan.

b. Sự tham gia của người dân vào các tổ chức XHDS ngoài nhà chùa

Ngoài chùa, sự nhìn nhận của người dân Thái Lan về XHDS ở nước này được thể hiện rõ nhất có lẽ ở sự tham gia của họ vào các tổ chức XHDS khác. Theo kết quả của một cuộc khảo sát của Robert B. Albritton và Thawilwadee Bureekul tiến hành năm 2002 đối với 1546 người ở một số vùng nông thôn, một số thành phố thuộc tỉnh (muang), các khu vực phụ cận thủ đô Băng Cốc (ngoại ô) và thủ đô Băng Cốc, tỉ lệ tham gia của những người được hỏi vào các tổ chức XHDS (cả các tổ chức chính thức và không chính thức) là rất thấp, 39,1% cho các tổ chức chính thức và chỉ có 13,5% cho các tổ chức không chính thức.

Cụ thể, người dân chủ yếu tham gia các tổ chức XHDS ở khu dân cư và các hội nông nghiệp (21% và 17% số người được hỏi). Các tổ chức XHDS hoạt động dưới hình thức các công đoàn lao động (Labour Unions) các hiệp hội thương mại (Trade Associations), các hợp tác xã sản xuất, các đảng phái chính trị, các NGO… thu hút được rất ít sự tham gia của người dân.

Trong tỷ lệ nhỏ tham gia các tổ chức XHDS đó, có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực khảo sát. Giả sử, con số những người tham gia một tổ chức XHDS ở khu vực nông thôn là 29,6%, ở các thành phố thuộc tỉnh là 13,2%, ở các khu vực ngoại ô Băng Cốc là 10,9%. Đồng thời, khu vực nông thôn chiếm tỉ lệ lớn ở số người tham gia vào hai tổ chức XHDS (15,2%), trong khi ở các thành phố thuộc tỉnh chỉ là 4,4%, ở khu vực ngoại ô Băng Cốc, con số noày chỉ là 1,8% (25)

Về cơ bản, người dân Thái Lan ở một mức độ nhất định đã nhận ra được vai trò của các tổ chức XHDS và tham gia vào các hoạt động của các tổ chức này.

3. Kết luận

Khuôn khổ hoạt động cho XHDS ở Thái Lan đã được đặt ra từ rất sớm nhưng cũng giống như nhiều quốc gia khác - vì duy trì sự ổn định nên Nhà nước đã đặt ra những hạn chế nhất định. Nói cách khác, XHDS ở Thái Lan được tạo điều kiện khá thuận lợi cho các hoạt động vì lợi ích cộng đồng như phát triển, an sinh xã hội, phòng chống HIV/AIDS… nhưng trên các lĩnh vực an ninh, chính trị, hoạt động của XHDS còn bị thách thức và luôn có tính hai mặt.

Trong khi Nhà nước muốn XHDS hoạt động ở mức ổn định nhất để duy trì sự cai trị của mình thì phần lớn giới học thuật nước này lại cho rằng, XHDS cần có nhiều vai trò hơn, đặc biệt vai trò dân chủ, thúc đẩy dân chủ… và phát triển.

Tuy nhiên, sự phát triển “quá mức” không có trật tự của XHDS cũng gây không ít phiền toái cho chính quyền nhà nước, làm mất sự ổn định của đất nước.

Với hơn 94% dân số theo Phật giáo, tỉ lệ tham gia vào các hoạt động của nhà chùa là rất lớn. Tuy nhiên, ngoài nhà chùa, tỉ lệ tham gia của người dân Thái Lan vào các tổ chức XHDS ở nước này chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ và vì vậy, quan điểm chung của các nhà nghiên cứu về XHDS ở Thái Lan cho rằng, hoạt động của XHDS ở Thái Lan còn tồn tại nhiều vấn đề./.

Chú thích

1. Michael H. Nelson, “People sector politics” (Kanmueang Phak Prachachon) in Thailandd: Problems of Democracy inOusting Prime Minister Thaksin Shinawatra, SEARC Working Paper Series No. 97 (May 2007), Hong Kong 2007, pp. 4-5.

2. Có thể xem: Amara Pongsapich (1995). “Nogovermental Organizations in Thailand”, in Emerginf Civil Society in the Asia Pacific Community, Singapore: IEAS, Tokyo: Japan Centerfor International Exchange, pp. 245-270; Chai-anan Samudavanija (1993), “State-Identity Creation, State Building in Civil Society”, in Reynold C. J. (ed.). National Identity and its Defenders, Thailand 1939-1989, Chiang Mai: Sildworm Books, pp. 59-85; LoGerfo J. P. (1997), Civil Society and Democratization in Thailand 1973-1992, PhD Dissertation, Columbia University…

3. Michael H. Nelson, tài liệu đã dẫn, tr. 16

4. Luật Hội nhân dân 2007, có thể tải bản tiếng Thái từ trang web http://www.krisdika.go.th. Luật này được tải ngày 31/3/2008

5. Luật Hội phát triển chính trị 2008, có thể tải bản tiếng Thái từ trang web: http://www.krisdika.go.th. Luật này được tải ngày 31/3/2008

6. Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor (the U.S.), International Religious Freedom Repoet 2002 ( Thailand ), xem http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2002/139

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.