Quá trình nghiên cứu ghép tuỷ xương
Khi tủy xương bị tổn thương sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Khi các tế bào trong tủy xương bị thoái hóa thì giải pháp triệt để là phải thay tủy.
Từ năm 1900, ở Mỹ, các nhà giải phẫu đã tìm ra dược cách ghép tủy tự thân. Năm 1965, nhà huyết học người Mỹ Edward Donnalll Thomas, giáo sư đại học Washington , Seatle, đã thành công trong việc ghép tủy xương giữa hai anh em sinh đôi. Ông dùng phương pháp chiếu xạ toàn bộ cơ thể bệnh nhân để diệt tủy trước khi ghép.
Năm 1963, bác sĩ Goerges Mathé ở Viện Gustave Roussy, Pháp, đã lấy tủy xương của bố, mẹ, chị, và 3 em trai để thay thế toàn bộ tủy xương cho một bệnh nhân sắp chết vì bệnh bạch cầu cấp tính. Bệnh nhân khỏi bệnh và xuất viện 3 tháng sau.
Ở Mỹ, các nhà phẫu thuật đã thử ghép cùng lúc tủy và thận, nhưng thất bại. Đến năm 1966, họ ghép thành công cùng lúc 3 tạng: tủy, thận và ruột.
Việc ghép tủy trở nên phổ biến và được chỉ định trong các bệnh lý ác tính về máu như: ung thư bạch cầu, Hodgkin, non – Hodgkin, lymphoma. Việc tìm được người cho tủy là điều khó khăn. Trong khi đó ở châu Á, năm 1983, Đài Loan là nước đầu tiên ghép được tủy.
Năm 1986, ca ghép tủy đầu tiên trên thế giới lấy tủy cho từ người chết được tiến hành thành công ở bệnh viện Miniapolis, bang Misota, nước Mỹ. Bệnh nhân là cậu bé 12 tuổi bị bệnh bạch cầu, người cho tủy là cha cậu bé, ông vừa chết vì suy tim. Tủy đã được đông lạnh trước khi ghép.
Năm 1987, các nhà nghiên cứu đã ước lượng trong tủy xương có chứa khoảng 0,01% tế bào gốc.
Năm 1990, Hội đồng khoa học giải Nobel đã trao giải Nobel sinh lý học cho Edwward Donall Thomas và Joseph E Murray. Murray là người đầu tiên ghép tủy thành công năm 1956. Donall Thomas được đánh giá là người sáng tạo ra phương pháp ghép tủy xương để trị bệnh vì ông đã hoàn chỉnh được kĩ thuật này. Ngoài ra, ông còn sáng tạo phương pháp ức chế hệ miễn dịch chống loại thải bộ phận ghép bằng cách kết hợp chiếu xạ và thuốc ức chế miễn dịch. Cũng như trong năm này, các nhà phẫu thuật Mỹ đã kỉ niệm ca ghép tủy thứ 1.800 của mình.
Năm 1998, theo đại học Seatle ở Mỹ, do tìm ra nhiều loại thuốc ức chế miễn dịch hữu hiệu, các ca ghép tủy không cùng huyết thống đã có tỉ lệ sống trên 5 năm đạt 57%. Nếu bệnh nhân được chuẩn đoán sớm hơn 1 năm, tỉ lệ sẽ đạt 74%. Các tỷ lệ này tương đương với những ca ghép tủy cùng huyết thống.
Tuy nhiên, tìm được tủy tương hợp để ghép trị bệnh không phải là vấn đề đơn giản. Tháng 10.1999, ở Hồng Kông có hai anh em sinh đôi bị bệnh tủy xương Wiskott Aldrich. Quỹ phụ trách về tủy xương đã kêu gọi người dân Hồng Kông hiến tủy. Có 30.000 người đến hiến tặng, nhưng xét nghiệm đều không tương hợp. Trung tâm lại gửi lời cầu cứu lên internet, có 4 triệu người tình nguyện nhưng tất cả đều không tương hợp kể cả 300.000 mẫu tủy của Trung tâm Anthony Nolan.
Ở Việt Nam, tháng 7.1995, Trung tâm Huyết học và Truyền máu TP Hồ Chí Minh đã hợp tác với chuyên gia Đài Loan thực hiện ca ghép tủy đầu tiên. Sang tháng 8.1995, trung tâm thử nghiệm 2 ca ghép tủy dị ghép nhưng kết quả không khả quan.
Cũng trong năm 1995, Trung tâm Huyết học và Truyền máu TP Hồ Chí Minh thực hiện ca ghép tủy thứ 3 cho bệnh nhân 12 tuổi. Trong ca ghép này, các chuyên viên Việt Nam trực tiếp thực hiện với sự cố vấn của chuyên gia Đài Loan.
Năm 1996, ngày 4.11, Trung tâm Huyết học và Truyền máu TP Hồ Chí Minh thực hiện một ca ghép tủy tự ghép. Tế bào tủy được ghép lấy từ tủy của bệnh nhân lấy trước đó 3 ngày và được bảo quản ở độ lanh 4°C. Đây là ca ghép tủy tự ghép ở Việt Nam .
Trong năm 2006, Bênh viện Nhi Trung ương Hà Nội đã thực hiện 2 ca ghép tủy cùng huyết thống. Ca thứ nhất 11.8.2006 cho một bệnh nhi 7 tuổi. ca thứ 2 ngày 19.11.2006 cho bệnh nhi 15 tuổi với sự giúp đỡ của chuyên gia Australia .
Các cuộc ghép tủy đã trở thành thường quy trên khắp thế giới, thế nhưng các nhà y học vẫn không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện.
Nguồn: Thuốc và sức khỏe, 343,1/11/2007, Tr 19.








