Phương pháp tiết kiệm năng lượng đơn giản
Giờ mùa hè (GMH) có xuất xứ lịch sử lâu đời. Viên đặc sứ Mỹ tại Pháp và Thụy Điển vào cuối thế kỷ XVIII Benjamin Franklin (1706-1790) và cũng là thành viên chính thức của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp (người tuy không phải là tổng thống Mỹ nhưng được tôn vinh trên tờ 100USD có mệnh giá lớn nhất trong lưu thông), nhận thấy rằng nhiều người dân Paris thích "nằm nướng" tới tận 11 giờ trưa, đôi khi còn muộn hơn và thậm chí họ vẫn còn để nến cháy cho đến lúc đó.
Trong một bức thư gửi tới tòa soạn tờ báo Juornal De Paris đầu xuân 1784, nhà khoa học kiêm chính khách Mỹ gạo cội nhấn mạnh: "Nếu như mọi người dân thủ đô Pháp đồng ý tắt nến khi trời sáng, thì chỉ riêng với khoản chỉ và sáp cũng tiết kiệm được hàng triệu quan vàng mỗi năm".
Đầu năm 1907, William Willet hành nghề thầu khoán ở London "hứng chí" viết một tiểu phẩm có tựa đề "Chớ coi thường ánh sáng ban ngày!", được dư luận kinh thành sương mù rất chú ý. Đồng thời ông ta cũng đứng ra tài trợ cho một chương trình rầm rộ, nhằm "vặn kim đồng hồ nhích nhanh 80 phút mỗi mùa hè" trong cả nước Anh.
Kế hoạch này đã được giới cần lao ủng hộ nhiệt liệt, bởi họ có thêm một giờ được làm việc dưới ánh sáng tự nhiên, cũng như một giờ để dạo chơi dưới buổi chiều tà (nên nhớ là mùa hè ở châu Âu ngày rất dài, nhiều khi tới 22-23 giờ khuya trời mới tối hẳn).
Giai cấp công nhân có điều kiện phục hồi sức lao động, và như vậy cũng "góp phần khôi phục vai trò cường quốc của nước Anh trên toàn cầu" - W.Willet nhận định. Đặc biệt W.Willet còn chỉ rõ: "Với việc thắp sáng một cách kinh tế nhất, sẽ tiết kiệm được một lượng khí gas có giá trị ngang bằng với món nợ nước ngoài hiện hữu của Vương quốc Anh".
Chỉnh theo GMH tại tháp đồng hồ Minsk(Cộng hòa Belarus ).
Vấn đề được đưa ra Nghị viện Hoàng gia, nhưng phần thắng thuộc về giới bảo thủ phản bác GMH. Nhất là trong giới chủ nông, họ lập luận rằng: bò sẽ cho ra sản lượng sữa ít hơn, nếu như bị vắt sớm một giờ so với thời gian cố hữu; ngoài ra là sương sớm ban mai cũng cản trở cho việc cắt cỏ và thu hoạch rơm... (!).
Nhưng Chiến tranh thế giới thứ I đã bắt buộc giới chủ nông Anh phải khuất phục, qua việc áp dụng "giờ thời chiến" - tương tự như thời gian đã biết của GMH. Rồi GMH được chính thức sử dụng ở Đức vào năm 1915, ở Anh và Pháp trong năm 1916, qua năm 1917 lan sang Mỹ nhằm tiết kiệm năng lượng cho công tác quốc phòng.
Cùng với thời gian, công việc điện khí hóa ngày càng phổ cập trong đời sống, còn các nguồn năng lượng vẫn không đổi - từ than, khí gas hay dầu lửa. Trong năm 1939, GMH ở Pháp kéo dài đến tận ngày 18/11; và bắt đầu từ ngày 25/2. Ở Anh cũng vậy.
Với việc chinh phục nước Pháp trong năm 1941, quân đội Hitler áp dụng GMH kiểu Đức trên khắp lãnh thổ Pháp. Đó là GMH triền miên và kéo dài cho tới hết chiến tranh. Người Anh cũng thực thi GMH dài hơn trong giai đoạn từ 1941-1944. Như vậy cả người Anh lẫn người Pháp đều quen với GMH trong Chiến tranh thế giới thứ II trọn cả 2 tiếng đồng hồ xê dịch so với giờ mặt trời theo quy ước.
Còn tại Hoa Kỳ từ tháng 2/1942 đến 9/1945, GMH có hiệu lực quanh năm, nhưng hồi đó người ta gọi là giờ thời chiến. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Chính phủ Mỹ quyết định quay lại với giờ cũ, nhưng một vài tiểu bang vẫn cự tuyệt cho đến nay.
Mọi việc ở châu Âu lại phát triển theo chiều hướng khác. Những quốc gia nằm về phía đông múi giờ chính trong đó có Pháp, trở lại với biểu đồ thời gian quy ước của mình. Tất cả các nước khác còn lại cũng vậy: từ vùng Scandinave phía bắc tới Địa Trung Hải phía nam, kể cả Đức và Thụy Sĩ - đều quay về giờ truyền thống sẵn có từ năm 1884, khi 24 múi giờ quy ước được áp dụng, với múi giờ chính (GMT) băng ngang Đài Thiên văn ở Greenwich (Anh) làm chuẩn. Chỉ có Italia là nước duy nhất còn áp dụng GMH. Rồi tới giai đoạn nhiều quốc gia lại bỏ "giờ múi", quay về với thời gian trong ngày được quy định từ thời... Trung cổ - kể cả Pháp và Tây Ban Nha.
Tuy việc này xê dịch trọn cả 60 phút so với thời gian thực của mặt trời, nhưng có lợi cho công tác truyền thông và chuyển tải nói chung. Đến năm 1968 tới lượt người Anh cũng phải từ bỏ thói bảo thủ của mình và thống nhất với cách tính giờ của đa phần Lục địa cũ. Khái niệm GMH trong thời kỳ này hầu như không được đề cập tới.
Nhưng rồi mọi việc lại được dàn xếp theo cách tốt nhất khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ bất chợt bùng lên. Chỉ trong 2 năm 1973 và 1974, giá dầu thô trên thị trường quốc tế đã tăng gấp bốn lần. Tại Pháp, một cơ quan đặc biệt về tiết kiệm năng lượng đã được cấp tốc thành lập, và hoàn toàn ngẫu nhiên khi người ta lật lại ý tưởng của quá khứ: áp dụng GMH nhằm giảm thiểu mức tiêu thụ năng lượng.
Các nhà khoa học Pháp tính rằng: GMH đã tiết kiệm được tới 300 nghìn tấn dầu quy ước mỗi năm. Rất đơn giản để đạt được mục đích mà chẳng tốn bất kể khoản đầu tư nào, chỉ cần một biện pháp hành chính đơn thuần. Cơ quan đặc biệt nêu trên cũng tính được rằng, lượng dầu tiết kiệm đủ dùng để sưởi ấm cho một thành phố với số dân nửa triệu người cho cả mùa đông.
GMH hay "giờ Giscard", như dân Pháp quen gọi từ khi có sắc lệnh ngày 16/1/1975 của cố Tổng thống Valery Giscard d'Estaing. GMH được đồng loạt áp dụng khắp châu Âu vì nguyên nhân kinh tế. Nghĩa là cứ tới thời điểm chuyển giao giữa ngày 24 và 25/3 hàng năm, kim đồng hồ được vặn nhanh thêm một tiếng và kéo dài cho đến hết ngày 24/9.
GMH được thực thi suốt 6 tháng theo quy định, đây là điều cần lưu ý đối với những người từ các vùng đất khác tới châu Âu trong giai đoạn thường niên này. Riêng tại Hoa Kỳ, GMH khởi sự từ 2 giờ sáng ngày chủ nhật cuối cùng của tháng 3 và kéo dài cho tới chủ nhật đầu tiên trong tháng 11 hàng năm.








