Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội qua thiết chế gia đình
1. Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm phát triển xã hội trong trường hợp này được hiểu gắn liền với hai khái niệm: biến đổi xã hội và tăng trưởng xã hội.
Biến đổi xã hội là sự chuyển đổi xã hội từ trạng thái này sang trạng thái theo các chiều hướng: cao, thấp, tốt, xấu,…
Tăng trưởng xã hội là sự biến đổi xã hội theo hướng mở rộng quy mô về số lượng của các yếu tố xã hội (hoạt động, quan hệ) trong khuôn khổ cơ cấu và đặc trưng xã hội không thay đổi.
Phát triển xã hội là sự tăng trưởng xã hội nhưng cấu trúc các yếu tố (các hoạt động xã hội, các quan hệ xã hội) đã được điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng nhằm làm cho các đặc trưng xã hội được khẳng định thêm.
Phát triển xã hội hiểu theo nghĩa này, là phát triển (cái) mặt xã hội trong thực tại xã hội. Mặt xã hội này tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…
- Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (vợ và chồng), quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại) hay quan hệ nhận nuôi.
Gia đình được xem là một đơn vị xã hội vi mô, chịu sự chi phối của xã hội song có tính ổn định, độc lập tương đối. Nó có quy luật phát triển riêng với tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù. Những thành viên trong gia đình được gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi kinh tế, văn hoá, tình cảm, đạo đức một cách hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ.
Thiết chế gia đình là một tập hợp bền vững các giá trị xã hội, những quy ước, luật lệ, vị thế xã hội, vai trò xã hội, nhóm xã hội và những điều kiện vật chất cần thiết do xã hội và Nhà nước đặt ra có liên quan trực tiếp đến gia đình để tác động lên các thành viên trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội.
2. Gia đình với phát triển xã hội
- Mục đích cuối cùng của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là hạnh phúc con người.
Quan điểm về hạnh phúc của mỗi người, mỗi quốc gia, mỗi thời đại là khác nhau, nó phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan. Tuy vậy, hạnh phúc là một trạng thái có thật mà ai ai cũng muốn và tìm cách đạt được.
Gần đây, một tổ chức nghiên cứu kinh tế - xã hội có trụ sở tại Vương quốc Anh (NEF - New Economics Foundation) có công trình với quy mô lớn là Báo cáo Chỉ số hạnh phúc hành tinh (HPI - Happy Plannet Index) đã đo lường về hạnh phúc của 178 quốc gia trên thế giới. Chỉ số hạnh phúc được tối giản hóa tập trung vào 3 chỉ số: tuổi thọ trung bình, số năm hài lòng với cuộc sống của mình và mức độ khai thác các điều kiện tài nguyên tự nhiên và mức độ làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái xung quanh. Trong cuộc nghiên cứu đó, Vanuatu, một quần đảo Nam Thái Bình Dương xếp thứ nhất, Việt Nam được xếp vào vị trí 12 (thuộc nhóm nước có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới). Như vậy, theo chỉ số hạnh phúc không nhất thiết đi liền với trình độ giàu - nghèo hay mức độ phát triển - kém phát triển.
Ở Việt Nam , hạnh phúc là một phạm trù thường được gắn với gia đình và gia đình là nội dung quan trọng quy định hạnh phúc của mỗi người.
- Gia đình là một giá trị cơ bản của người châu Á nói chung, người Việt Nam nói riêng. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều khẳng định điều này.
- Những ưu thế của gia đình trong việc phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội:
+ Gia đình có số lượng lớn, lớn hơn bất kỳ một loại hình tổ chức xã hội nào khác. Ở Việt Nam hiện nay có gần 17 triệu gia đình.
+ Xã hội Việt Nam hiện nay, dân cư nông thôn đang chiếm tỷ lệ cao, trên 70% dân số. Xã hội nông thôn rất đề cao giá trị gia đình, bên cạnh giá trị đất đai.
+ Gia đình có mối quan hệ huyết thống, tình cảm gắn bó sâu sắc.
+ Các mối quan hệ trong gia đình diễn ra thường xuyên, trực tiếp hàng ngày và suốt cả cuộc đời, rất thuận lợi cho việc triển khai các biện pháp quản lý, phát triển xã hội. Chẳng hạn muốn thực hiện biện pháp để cải thiện thể trạng giống nòi: nâng chiều cao trung bình của người Việt Nam ta có thể thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý qua con đường ăn uống, tập luyện thể dục hàng ngày (cho trẻ em uống sữa bắt buộc ở tuổi học đường).
- Gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản. Trong thời đại ngày nay, bất cứ xã hội nào cũng đều có các thiết chế xã hội cơ bản: 1. Gia đình; 2. Kinh tế; 3. Chính trị; 4. Văn hóa - xã hội (giáo dục, y tế, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, truyền thông đại chúng…). Không có các thiết chế xã hội cơ bản phù hợp các quan hệ xã hội cụ thể thì xã hội đó sẽ không có kỷ cương trật tự, không có sự ổn định và cũng không phát triển được. Thực tiễn đã chứng minh ở đâu mà nhà nước chưa đủ sức giải quyết vấn đề xã hội thì ở đó gia đình được huy động để thay thế.
Hạn chế của thiết chế gia đình trong việc thực hiện các chức năng của nó là tính không thống nhất "mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh" "đèn nhà ai nấy rạng". Nếu công tác quản lý khắc phục được hạn chế này sẽ phát huy được sức mạnh to lớn của hệ thống gia điình trong việc thực hiện các giải pháp phát triển xã hội.
Trong quá trình tổ chức - quản lý phát triển xã hội, Đảng ta đã có quan tâm đến gia đình với tư cách vừa là đối tượng và vừa là chủ thể của quá trình này. Mối quan hệ giữa gia đình và phát triển xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bài nói chuyện tại Hội nghị Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình ngày 10-10-1959: Rất quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt xã hội mới tốt.
Tuy vậy, nhìn lại thực tế thời gian qua, nhà nước chưa có nhiều chính sách, biện pháp cụ thể để phát huy vai trò to lớn của thiết chế gia đình. Một thời gian dài trước đổi mới, ở nông thôn, chúng ta chỉ quan tâm đến tập thể, hợp tác xã mà ít quan tâm đến gia đình (95% đất nằm trong tay tập thể, 5% đất chia cho gia đình) cho nên dù là một nước nông nghiệp nhưng vẫn thiếu lương thực, phải nhập mì hạt của nước ngoài. Chỉ đến khi có sự thay đổi chính sách bằng việc thực hiện chế độ khoán đến hộ gia đình thì Việt Nam không những đủ ăn mà còn xuất khẩu lương thực đứng hàng thứ 2 thế giới. Đó là bằng chứng hùng hồn nói lên rằng: nếu thiết chế gia đình được quan tâm và có chính sách đúng thì sẽ phát huy được sức mạnh vô song của nó cho việc phát triển xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay những trường hợp tương tự chưa có nhiều. Đó cũng là một sự lãng phí nguồn lực xã hội.
Nói đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là nói đến những việc làm hôm nay để sao cho tương lai ta có được một xã hội mà ở đó mọi người được sống tốt hơn, tự do hơn, hạnh phúc hơn.
Vì vậy, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội không chỉ tập trung vào việc giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh mà quan trọng hơn là phải tập trung vào các biện pháp phòng ngừa thông qua các chính sách xã hội. Hậu quả tình trạng mất cân đối giới tính trong cơ cấu dân số chỉ xay ra sau 20 năm kể từ khi phần lớn các gia đình trong xã hội tìm cách sinh con ở một giới tính nào đó (như hiện nay ở Việt Nam thích sinh con trai hơn con gái).
Đóng góp quan trọng của gia đình vào việc phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, được thể hiện thông qua việc thực hiện các chức năng của gia đình.
Chức năng 1: Sinh đẻ để bảo tồn nòi giống. Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nướcđã khẳng định: "Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử quy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp nhưng bản thân sự sản xuất đó có hai loại. Một loại là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, quần áo, thức ăn, nhà ở… và những công cụ cần thiết đế sản xuất ra những thứ đó, loại khác là sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Những thiết chế xã hội là do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình".
Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực xã hội - mục tiêu và động lực phát triển của xã hội trước hết phụ thuộc chức năng này của gia đình. Vì vậy, mỗi gia đình cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết và Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để thực hiện tốt chức năng này.
Chức năng 2: Giáo dục, hình thành nhân cách, góp phần đào tạo những công dân có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội. Từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi kết thúc cuộc đời, mỗi cá nhân đều chịu sự tác động của môi trường xã hội hóa: gia đình. Một đứa trẻ sinh ra bị tách khỏi gia đình và môi trường xã hội thì nó không thể thành người được. Nó chỉ mãi mãi là một sinh vật có hình người mà thôi.
Mục tiêu phát triển xã hội là phát triển con người. Mà gia đình là nơi đầu tiên để mỗi người học làm người. Gia đình có thể phát hiện bồi dưỡng nhân tài, giáo dục nâng cao trình độ học vấn, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giáo dục giới tính và đặc biệt là giáo dục đạo đức, tác phong cho con cái. Vì vậy, thông qua chức năng này, gia đình tham gia phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.
Chức năng 3: Đảm bảo an toàn, chăm sóc nuôi dưỡng người già trẻ em, người ốm đau bệnh tật.
Các công trình nghiên cứu ở các quốc gia khác trên thế giới cho thấy nơi nào mà hệ thống an sinh xã hội chưa có hoặc chưa đủ mạnh thì ở đó các gia đình sẽ sinh nhiều con để nương tựa về già, phòng ngừa rủi ro. Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là không để cho tình trạng người già, trẻ em phải sống lang thang, cơ nhỡ. Nhà nước khó có thể thay thế một cách tốt nhất của gia đình.
Cần thấy rằng, với khả năng thực tế của nhà nước ta hiện nay trong việc đáp ứng các nhu cầu an sinh xã hội thì gia đình sẽ vấn còn là nơi quan trọng bảo đảm an sinh xã hội cho các thành viên trong gia đình. Khi mà hệ thống an sinh xã hội còn yếu kém thì người ta phải thực hiện theo cách truyền thống ngàn đời: "Trẻ cậy cha, già cậy con", "sẩy cha còn chú", "sẩy mẹ bú dì". Vì vậy, cần có chính sách để củng cố phát triển, phát huy chức năng này của gia đình trong việc phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.
Chức năng 4:Thoả mãn các nhu cầu về tâm lý, tình cảm, đạo đức. Gia đình được ví như tổ ấm tinh thần, tầm giảm sốc tuyệt vời giúp con người lấy lại trạng thái thăng bằng sau những giờ lao động, giao tiếp xã hội căng thẳng, stress. Những chính sách tăng thời gian, tạo điều kiện tiếp xúc gặp gỡ gia đình là góp phần làm tăng hạnh phúc cho đời sống mỗi người.
Người Singapore rất giầu có về kinh tế nhưng họ cảm thấy mình không hạnh phúc vì công việc và sự cạnh tranh quyết liệt trong việc làm đã cuốn hút mọi người vào đó, họ không còn thời gian cho gia đình, với gia đình và bạn bè. Đó là một bài học sinh động cần rút kinh nghiệm cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam .
Chức năng 5: Kiểm soát xã hội đối với hành vi cá nhân. Gia đình có thể đóng góp quan trọng vào việc ngăn ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm học. Đức đã nghiên cứu trên 4.000 trẻ em và có kết luận: những đứa trẻ càng có quan hệ gắn bó thường xuyên với mẹ càng ít có nguy cơ nghiện ma tuý. Nếu mỗi gia đình đều trở thành một "pháo đài" chống lại sự tấn công của các nguy cơ ma tuý, tội phạm… thì khó có sức mạnh nào thay thế được.
Chức năng 6: Gia đình là hộ sản xuất và tiêu dùng cơ bản của xã hội, góp phần tích cực vào sự di chuyển tạo ra các nguồn của cải xã hội. Bữa ăn gia đình có nhiều ý nghĩa về giáo dục và mang lại hạnh phúc thực sự cho các thành viên.
3. Để phát huy vai trò gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
- Cả xã hội, trước hết là Nhà nước và các chủ thể quản lý cần đổi mới tư duy, nhận thức đầy đủ về chức năng gia đình, về khả năng to lớn mà thiết chế gia đình có thể làm được trong quá trình quản lý phát triển xã hội.
- Phát triển các ngành khoa học nghiên cứu về gia đình như tâm lý học, đạo đức học, nhân chủng học, kinh tế học, xã hội học… để có thông tin làm cơ sở khoa học cho việc đề ra những chính sách đúng đắn đối với gia đình trong giai đoạn mới, giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa.
- Hoàn thiện, thực thi tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bình đẳng giới.
- Có các chính sách xã hội, nhất là các chính sách an sinh nhi đồng và gia đình, tạo điều kiện tốt cho cuộc sống gia đình của công dân.
- Tạo đủ việc làm với thu nhập tốt cho các gia đình.
- Có chế độ làm việc hợp lý (số giờ làm việc mỗi ngày, mỗi tuần, trang bị cho chỗ làm việc…) để con người có đủ thời gian cần thiết quan tâm đến gia đình.
- Có sự ràng buộc hợp lý của cha mẹ với con cái để hạn chế sự hư hỏng của thế hệ trẻ, hạn chế tệ gia đình chủ nghĩa trong quản lý xã hội.
- Có chế độ bảo vệ và phát huy truyền thống gia đình.
- Tổ chức trang bị kiến thức kỹ năng làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ (chẳng hạn các đôi nam nữ trước khi lập gia đình phải qua một lớp học trang bị về kỹ năng truyền thống trong gia đình, về các xử lý mâu thuẫn trong gia đình, kiến thức và kỹ năng tối thiểu về tâm lý, sư phạm, để biết chăm sóc giáo dục con cái một cách khoa học…).
- Thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, thực hiện các chương trình tuyên truyền giáo dục, phổ biến tri thức cho gia đình, qua đó phát huy vai trò gia đình trong việc phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.
- Gắn gia đình với việc đánh giá, đề bạt cán bộ, công chức.
- Chấn chỉnh phong trào "Xây dựng gia đình văn hoá" đi vào thực chất.
Mỗi gia đình là một cơ thể sống với hệ thống các tế bào của nó là các gia đình. Vì vậy, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là phải quan tâm và có chính sách đúng đắn tác động vào hệ thống tế bào gia đình, thông qua thiết chế gia đình làm cho cơ chế xã hội luôn lành mạnh, phát triển vì hạnh phúc con người.








