Phát triển thủy điện ở Thừa Thiên- Huế: Niềm vui và nỗi lo
Những ngày đầu tháng 8/2008, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế lại vừa cho phép Công ty Cổ phần Trường Phú thực hiện dự án thuỷ điện thứ tư - Nhà máy thủy điện Thượng Lộ, vị trí tại xã Thượng Lộ và xã Hương Hữu ( huyện miền núi Nam Đông), với công suất lắp máy 7,5MW, sản lượng điện lượng trung bình hàng năm 29,41 triệu Kwh. Nhà máy có tổng vốn đầu tư 181 tỷ đồng tỷ đồng, dự kiến sẽ phát điện vào năm 2011. Trước đó, 3 công trình thủy điện đã được xây dựng tại tỉnh gồm Dự án thủy điện Bình Điền (công suất lắp máy 44 MW), thủy điện Hương Điền (54 MW), và thủy điện A Lưới (170 MW).
Hiện, công trình thủy điện Bình Điền đang tổ chức lấp cống dẫn dòng, tích nước hồ chứa để chuẩn bị cho việc vận hành nhà máy vào tháng 11/2008. Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Bình Điền Phạm Ngọc Thành cho biết: Thuỷ điện Bình Điền được khởi công tháng 1/2005, tổng mức đầu tư khoảng 1.100 tỉ đồng. Công trình bao gồm đập đầu mối có cao trình 87m, gồm có 5 cửa tràn xả lũ với tốc độ 4.500m 3/s (gấp 1,5 lần so với lưu lượng lũ "thế kỷ" năm 1999). Diện tích mặt nước rộng 17,7 triệu km2, dung tích lòng hồ đạt 640 triệu km2. Điều quí nhất là khi công trình hoàn thành ngoài nguồn năng lượng điện, công trình này giúp giảm mức nước lũ cho Cố đô Huế từ 1,2 - 1,4m. Công ty cổ phần thuỷ điện Bình Điền là đơn vị hoàn thành đúng tiến độ cam kết với dân trong việc xây dựng hạ tầng để di chuyển 47 hộ dân của bản Bồ Hòn đến nơi định cư mới. Những ngày này, hơn 400 kỹ sư, cán bộ, công nhân trên công trường đang triển khai việc lắp đặt hơn 3.000 tấn thiết bị để vận hành nhà máy đúng tiến độ.
Đối với dự án Thủy điện Hương Điền, hiện chủ đầu tư đang nghiên cứu để mở rộng, nâng công suất nhà máy lên 85 MW. Công trình hiện thi công đạt khối lượng 261 tỉ đồng, bằng 24,9% tổng mức đầu tư. Các đơn vị thi công hiện đã hoàn thành các hạng mục phụ trợ, đắp và chống thấm đê quây, hố móng lòng sông, hố móng nhà máy, trạm phân phối, và đang thi công tuyến cống áp lực, tuyến năng lượng... 154 hộ trong vùng lòng hồ đang được tổ chức di dời đến địa điểm định cư mới tại xã Hồng Hạ (huyện A Lưới) và xã Hương Vân (huyện Hương Trà). Công trình Thuỷ điện A Lưới cũng đã thi công đạt khối lượng gần 420,5 tỉ đồng, bằng khoảng 15% tổng mức đầu tư. Thừa Thiên- Huế đã dành 470 ha đất để di dời 77 hộ bị ảnh hưởng thuộc 6 xã nằm trong vùng dự án (gồm Sơn Thủy, Hồng Thái, Hồng Thượng, Nhâm, Hồng Quảng và Phú Vinh) đến nơi ở mới. Thủy điện A Lưới là công trình nằm trên sông A Sáp, cách trung tâm thành phố Huế 70 km về phía Tây. Đây là công trình thuỷ điện cấp II, diện tích lưu vực 331 km2, dung tích toàn bộ hồ chứa 60,2 triệu m3. Công trình được xây dựng gồm 2 tổ máy, công suất lắp máy 170MW, sản lượng điện sản xuất trung bình là 686,5 triệu kWh/năm, tổng mức đầu tư 3.234,7 tỉ đồng.
Các dự án thuỷ điện nhỏ sắp được đầu tư xây dựng tại Thừa Thiên- Huế bao gồm: Thuỷ điện A Roàng (dự kiến công suất lắp máy 10 MW, vốn đầu tư 6 tỉ đồng), Thuỷ điện Hồng Hạ (dự kiến công suất lắp máy 3 MW), Thuỷ điện Thượng Nhật (dự kiến công suất lắp máy 7 MW), thuỷ điện Sông Bồ (dự kiến công suất lắp máy 7 MW). Các dự án thủy điện còn lại gồm: thủy điện A Ling, Hồng Thuỷ (huyện A Lưới) đang trong giai đoạn nghiên cứu lập báo cáo đầu tư...
Việc phát triển nhiều công trình thủy điện cùng lúc cũng đồng nghĩa với việc sẽ giảm lũ cho vùng hạ lưu các con sông. Khi ruộng đồng không còn phù sa do lũ lụt bồi đắp, độ màu mỡ và phì nhiêu cho đất sẽ bị hạn chế. Ban Kinh tế và Ngân sách - Hội đồng nhân dân tỉnh đã đưa ra lời cảnh báo: từ năm 2010 trở đi Thừa Thiên- Huế sẽ thiếu cát sỏi trong xây dựng. Sở dĩ có tình trạng này là vì lâu nay, nguồn cung cấp cát sỏi trên các con sông ở Thừa Thiên-Huế luôn được bồi đắp sau các mùa lũ, ước tính mỗi năm có khoảng từ 1,3 -1,7 triệu m 3do mưa lũ trôi về bổ sung vào lòng sông. Tuy nhiên, từ năm 2010 trở đi, khi các dự án thuỷ điện, thuỷ lợi đã xây dựng xong và đi vào hoạt động, lượng cát sỏi từ thượng nguồn bộ sung về hạ nguồn các con sông sẽ không còn, chính đây là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu cát xây dựng trầm trọng xảy ra. Tài liệu nghiên cứu của các cơ quan chức năng cho biết, hiện trữ lượng cát trên các con sông ở Thừa Thiên- Huế như: sông Bồ, sông Hương, sông Truồi còn có trữ lượng khoảng 2,75 triệu m 3, chỉ đáp ứng cho nhu cầu khai thác để làm vật liệu xây dựng trong một vài năm tới (hiện mỗi năm, Thừa Thiên- Huế khai thác hơn 900.000 m 3cát sỏi). Để khắc phục tình trạng này, Thừa Thiên- Huế cần đầu tư các dự án nghiên cứu, quy hoạch và phát triển công nghệ mới để đánh giá tiềm năng, khả năng khai thác sử dụng nguồn cát ở các dải cát ven biển để thay thế cát khai thác ở các con sông.
Kết quả khảo sát mới đây của Ban quản lý dự án sông Hương còn cho biết: dòng sông đang đứng trước sự thay đổi lớn về môi trường tự nhiên. Nhất là sau khi các công trình về phía thượng nguồn như: hồ Tả Trạch và các hồ đập thuỷ điện, cũng như đập ngăn mặn Thảo Long (phía hạ nguồn con sông) đi vào hoạt động, quá trình trao đổi nước giữa sông và biển bị hạn chế làm giảm đáng kể các loại động, thực vật thuỷ sinh. Các nhóm sống trôi nổi trên mặt nước (bèo) và sống chìm (rong) đã phát triển mạnh cả về quần thể và vùng phân bố. Bên cạnh đó, nhóm sống chìm (rong) gồm các loài rong cám (Najas indica), rong tóc tiên (Hydrilla verticillata) và rong mái chèo (Vallisneria spiralis) phát triển thành những thảm lớn và dày ở ven bờ. Sự bùng phát thực vật thuỷ sinh ở sông Hương đã làm giảm đi phần nào tính thẩm mỹ và cảnh quan của sông Hương.
Vì lẽ đó, trước mắt, Thừa Thiên - Huế cần phải xây dựng được một chương trình nghiên cứu tổng hợp để có được những cơ sở khoa học đủ để kịp thời đưa ra biện pháp quản lý bền vững cho môi trường và hệ sinh thái sông Hương...
Nguồn: Tài nguyên & Môi trường, 12/8/2008








