Phát triển chăn nuôi đại gia súc ở miền núi phía Bắc
Các thương hiệu của sản phẩm chăn nuôi ở MNPB đã được ít nhiều khẳng định trong thị trường nội địa như sữa tươi Mộc Châu, trâu mốc Tuyên Quang, dê cỏ Hà Giang, ngựa bạch Lạng Sơn, gà H"mông Sơn La, lợn "cắp nách" Lào Cai...
Giai đoạn 2001 -2007, đàn trâu khu vực MNPB tăng trưởng 1,16%/năm (cao hơn tốc độ trung bình của cả nước 1,03%/năm), đàn bò tăng 4,88%/ năm, đàn bò sữa tăng 14,42%/năm, đàn dê tăng 15,78%/năm, đặc biệt là đàn ngựa ở khu vực này chiếm tới 88,60% tổng đàn cả nước, đàn trâu chiếm 58,84% và đàn dê chiếm 34,81% tổng đàn cả nước.
Tổng sản lượng thịt năm 2007 đạt 503,6 nghìn tấn, tổng sản lượng trứng đạt 445,4 nghìn tấn, tổng sản lượng sữa đạt 11,5 nghìn tấn, tổng sản lượng mật đạt 1,5 nghìn tấn và 805,9 tấn kén tằm.
Tiềm năng đất đai ở MNPB còn rất dồi dào. Hiện toàn khu vực mới đưa vào sử dụng 38,9% diện tích (khoảng 1.285.000 ha), còn tới 61% diện tích đất chưa sử dụng (khoảng 2.023.000 ha). Trong đó có 240.000 ha có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Trong khi chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi tập trung rất cần diện tích bãi chăn thả và xử lý chất thải.
Trước những tiềm năng của khu vực MNPB, cùng ý chí với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, ông Hoàng Kim Giao – Cục trưởng Cục Chăn nuôi đã đưa ra rất nhiều những giải pháp để đẩy mạnh chăn nuôi vùng MNPB, đặc biệt là chăn nuôi gia súc ăn cỏ.
Theo ông Hoàng Kim Giao, có nhiều nguyên nhân làm chăn nuôi chưa phát triển mạnh ở khu vực này những nguyên nhân chính là đồng bào MNPB vẫn chủ yếu chăn nuôi các giống địa phương và chăn thả tận dụng nên năng suất thấp, do quản lý lỏng lẻo và tập quán chăn nuôi thả rông nên cận huyết nhiều, thoái hóa giống cao. Sức sinh sản kém nên tốc độ tăng đàn chậm do còn chủ yếu phối giống trực tiếp tự do trong khi chăn nuôi lại phân tán nhỏ lẻ nên cơ hội tiếp xúc gia súc đực, cái ít, tỷ lệ thụ thai do được phối giống đúng thời kỳ động dục không cao.
Một nhóm nguyên nhân khá quan trọng làm kìm hãm sự phát triển chăn nuôi khu vực MNPB là công tác chủ động xây dựng chuồng trai, TĂCN và khai thác thị trường còn rất yếu kém nên chăn nuôi ở MNPB còn bị động, chịu ảnh hưởng lớn từ thiên tai và tư thương ép giá giống hoặc sản phẩm.
Khu vực MNPB cũng là khu vực có tỷ lệ đói nghèo cao, một xu hướng được lựa chọn là chăn nuôi các vật nuôi ít cạnh tranh lương thực với con người và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội – tự nhiên của vùng. Như vậy, định hướng phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ trên toàn khu vực này là một định hướng hết sức đúng đắn và sát thực. Tuy nhiên trong giai đoạn mới, chăn nuôi gia súc ăn cỏ ở khu vực này cần phải được khuyến khích theo hướng phát triển hình thức trang trại, gia trại, từng bước công nghiệp hóa và sản xuất sản phẩm “sạch”.
Các giải pháp chính mà Cục Chăn nuôi đưa ra cùng Hội nghị bàn luận và nhất trí cao tập trung vào công tác quy hoạch, giống, thức ăn thô xanh, kiểm soát dịch bệnh và môi trường, công tác phát triển hệ thống cán bộ, đặc biệt là mạng lưới cán bộ cơ sở.
Cục trưởng Cục Chăn nuôi – ông Hoàng Kim Giao nhấn mạnh công tác quy hoạch vùng chăn nuôi cần được các tỉnh xây dựng càng sớm càng tốt trên cơ sở phối hợp hợp lý với các quy hoạch về cơ sở hạ tầng và giáo dục. Khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại nhưng vẫn phát triển chăn nuôi nông hộ có kiểm soát. Cũng theo ông Giao, công tác giống cần được đẩy mạnh một cách tích cực, vừa bảo tồn được các vật nuôi quý bản địa vừa xã hội hóa công tác giống, đặc biệt phát triển mạng lưới thụ tinh nhân tạo. Ông Giao khẳng định để có thể chủ động được thức ăn cho gia súc ăn cỏ thì cỏ làm TĂCN phải được đưa vào hệ thống cây trồng, phải là hàng hóa và xuất hiện được nghề trồng cỏ, buôn bán cỏ và sản phẩm cỏ chế biến (đóng bánh, ủ chua…).
Công tác phát triển nhân lực phục vụ cho hệ thống ngành đặc biệt là mạng lưới cán bộ cơ sở cũng được Hội nghị tập trung thảo luận nhằm mục đích phục vụ sản xuất được kịp thời, góp phần tích cực nhất vào việc nâng cao nhận thức, thay đổi tập quán chăn nuôi của đồng bào dân tộc vùng này; nâng cao khả năng dự báo tiềm năng và rủi ro trong chăn nuôi; tăng khả năng thu hút, xã hội hóa và phối hợp giữa nhiều bộ, ngành, các thành phần kinh tế - xã hội vào sản xuất và quản lý trong chăn nuôi.








