Phát triển cây thuốc bản địa góp sức xoá đói giảm nghèo ở vùng núi Yên Bái
Nguồn tài nguyên này chủ yếu phân bổ ở các vùng núi, chiếm 2/3 diện tích lãnh thổ, là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau, đã và đang đóng góp phần quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cũng như tạo nguồn thu nhập và phát triển kinh tế của các cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng nghèo ở miền núi. Tuy nhiên, cùng với công việc phát triển của nền kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập hiện nay, do nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống ngày một tăng, nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng đang bị cạn kiệt do tàn phá và khai thác quá mức. Việc phát triển tài nguyên cây thuốc chủ yếu chạy theo lợi nhuận trước mắt và chia sẻ không hợp lý, bởi vậy vấn đề quản lý, sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam, đặc biệt các cộng đồng ở miền núi là việc làm cấp bách.
Yên Bái là tỉnh ở vùng núi Tây Bắc cũng đang ở trong tình trạng trên. Tỉnh Yên Bái có ¾ diện tích là đồi rừng, ở đó có 29 dân tộc anh em sinh sống. Rừng ở Yên Bái xa có nhiều cây thuốc bản địa tồn tại như: đẳng sâm, sa nhân, ba kích, cẩu tích, thiên niên kiện, thổ phục linh, hoài sơn, bỏ cốt toái, hà thủ ô, huyết đằng cùng nhiều cây thuốc nam. Kinh nghiệm dân gian của nhân dân các dân tộc sinh sống trên đất rừng Yên Bái đã góp phần chăm sóc sức khoẻ cộng đồng từ ngàn năm nay. Những năm ở thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ 20, rừng Yên Bái đã cung cấp hàng trăm tấn dược liệu khô cung ứng cho thị trường thuốc đông dược phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khoẻ mỗi năm. Đến nay những nguồn tài nguyên cây thuốc bản địa này đã và đang cạn kiệt. Vào rừng bây giờ khó mà nhìn thaýa cây thuốc, đi rừng xa cũng hiếm gặp những cây thuốc già dặn, đủ tuổi khai thác. Ở đất thuốc mà vẫn phải đi tải thuốc ở nơi khác về dùng. Tâm sự với những ông lang, bà mế thuốc nam mới thấy hết những khao khát, tiếc nuối của họ về cây thuốc bản địa và nghề thuốc gia truyền, những tâm trạng khiến ta phải suy nghĩ cho tương lai của nghề thuốc cổ truyền.
Cây thuốc, đặc biệt là cây thuốc dân tộc bản địa luôn gắn liền với rừng núi. Rừng không những cần thiết cho sự sinh tồn của con người, cho sự phát triển kinh tế mà còn giữ nhiều chức năng sinh thái quan trọng. Chính vì rừng bị tàn phá mà có ảnh hưởng tới làm cho mưa không thuận, gió không hoà, trôi rửa xói mòn, sạt lở lũ quét… là những bài học nhỡn tiền mà Yên Bái cùng cả nước đã gặp phải những năm vừa qua.
Theo thống kê của ngành Dược, cả nước có hơn 40 bệnh viện y học cổ trueyèn, gần 4000 cơ sở chẩn trị Đông y sử dụng khoảng 30.000 tấn dược liệu với tổng số 150 0 180 vị thuốc có nguồn gốc từ thảo dược để khám và chữa bệnh cho nhân dân hàng năm. Tỷ trọng dược liệu chiếm khoảng 30% nguyên liệu sử dụng cho công nghiệp dượ cả nước, nhu cầu dược liệu cho công nghiệp dược hàng năm là 30.000 tấn. Đó là chưa kể tới hàng chục tấn thuốc nam bản địa do ông lang, bà mế sử dụng theo kinh nghiệm tại cộng đồng. Phát triển cây thuốc bản địa đảm bảo cung ứng đủ cho nhu cầu này hàng năm là một hướng đi, một nguồn thu đáng kể giúp xoá đói nghèo ở miền núi.
Nhiều tài liệu, sách báo Y học đã nói tới những giá trị lớn của cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc bản địa trong bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cộng đồng. Một đặc điểm cơ bản của cộng đồng các dân tộc thiểu số là họ luôn sống ở các vùng rừng núi, nơi có rất nhiều cây thuốc mọc tự nhiên. Những cây thuốc mà chỉ có họ, người bản địa biết và sử dụng theo kinh nghiệm truyền thống và lưu truyền trong từng cộng đồng dân tộc, được gọi là cây thuốc dân tộc bản địa. Nó khác những cây thuốc mức độ thông thường (chung) ở chỗ: Nó chưa được các nhà khoa học nghiên cứu ở những mức độ khác nhau và được ghi chép thành sách vở.
Cây thuốc bản địa và tri thức bản địa có vai trò rất quan trọng trong sóc chăm sóc sức khở nhân dân các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những cộng đồng ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà có sự thiếu hụt về tiếp cận của các dịch vụ y tế nhà nước do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong mỗi cộng đồng đều có những người biết dùng cây thuốc bản địa của địa phương để chữa bệnh. Những ông lang, bà mế này biết cách chữa bệnh riêng. Họ không cần bắt mạch, không biết lý của YHCT như các ông lang ở miền xuôi, nhưng họ chữa các bệnh rất hiệu quả như: chữa vết thương phần mềm, sản hậu, bó gãy xương, như rắn độc cắn, bệnh trẻ em… Một số người còn biết lấy thuốc cho những đôi vợ chồng chậm có con hoặc làm ngừng đẻ… Tri thức bản địa được coi như một nguồn tài nguyên phin vật thể quan trọng và có giá trị cao, không kém các nguồn tài nguyên vật thể khác. Nói chung, các dân tộc đều có nền văn hoá riêng, trong đó có văn hoá y học truyền thống. Từ đó dẫn đến kinh nghiệm sử dụng cây thuốc bản địa của mỗi dân tộc cũng khác nhau. Cùng một dân tộc, dù sống cách xa nhau về không gian nhưng họ vẫn tìm được những câu thuốc truyền thống mà dân tộc họ đã có kinh nghiệm sử dụng và ngược lại.
Để duy trì ảnh hưởng của tri thức bản địa và nền văn hoá giàu bản sắc của các dân tộc anh em về YHCT phục vụ mục tiêu chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ môi trường sinh thái, hướng dẫn và giúp đỡ người dân trồng thuốc nam bản địa là việc làm quan trọng và cần thiết, vừa tạo việc làm và thu nhập cho người dân, vừa chủ động cung ứng nguồn nguyên liệu làm thuốc cho chăm sóc sức khoẻ, đồng thời với nó là huy động sự góp sức của người dân chủ động tham gia bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống. Trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, sự tham gia của người dân rất quan trọng, đó là nhu cầu xã hội hoá trong bảo tồn. Với lợi thế về tự nhiên xã hội, Yên Bái là tỉnh có nguồn tài nguyên cây thuốc bản địa phong phú. Nguồn lợi thế này nếu biết phát triển một cách hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho cộng đồng các dân tộc trong tỉnh, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân, đồng thời còn tích cực bảo vệ rừng và môi sinh, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Trong những năm qua, với chức năng nhiệm vụ của mình, Hội Đông Y tỉnh Yên Bái đã tích cự tuyên truyền và chỉ đạo cán bộ hội viên của Hội góp sức trồng và sử dụng thuốc nam bản địa, đẩy mạnh việc tuyên truyền xã hội hoá công tác chăm sóc sức khoẻ bằng YHCT trong cộng đồng. Nhiều mô hình tổ chức trồng và sử dụng thuốc nam bản địa tốt ở Yên Bái được hình thành, hoạt động hiệu quả bước đầu như: Đào Thịnh, Hưng Khánh huyện Trấn Yên; Thượng Bằng La huyện Yên Bình: Đông Cuông huyện Văn Yên… Những năm tới Hội sẽ tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác này ở Yên Bái, có nghiên cứu sinh sâu hơn về cây thuốc bản địa ở từng vùng, tranh thủ sự giúp đỡ của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ và nhà nước để hỗ trợ nhân dân phát triển trồng cây thuốc bản địa thu lợi, góp phân xoá đói nghèo ở vùng sâu vùng xa, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội ở trong tỉnh. Mong rằng những ý nguyện này của cán bộ hội viên Hội Đông y sẽ nhận được sự hưởng ứng của cộng đồng và sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền trong tỉnh.
Nguồn: Khoa học & Cuộc sống tỉnh Yên Bái, 6 - 2008, tr 23







