Ổn định đất nông nghiệp để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia
Song bên cạnh thành tựu đó, sản xuất lương thực nước ta cũng đã xuất hiện những vấn đề nổi cộm, những khó khăn và thách thức mới trong quá trình phát triển. Những năm gần đây sản lượng lúa có xu hướng chững lại và giảm dần, sản xuất ngô tuy có tăng nhưng rất chậm nên không bù lại sản lượng lúa giảm nên sản lượng lương thực có hạt chững lại và có xu hướng giảm dần…
Trong khi đó dân số cả nước hàng năm tăng thêm khoảng trên 1,2 triệu người (+1,2%). Tốc độ tăng sản lượng lương thực hàng năm luôn thấp hơn tốc độ tăng dân số, nên lương thực bình quân đầu người giảm dần: Năm 2008 chỉ còn 459 kg, giảm so với năm 2007 (465kg và năm 2006: 471,1 kg). Khủng hoảng lương thực thế giới ngày càng gay gắt và đã lan đến Việt Nam . Giá lương thực những năm qua, nhất là 2 năm 2007 và 2008 tiếp tục tăng nhanh và đứng ở mức cao. Lương gạo xuất khẩu cũng giảm dần, cơn sốt giá lương thực tháng 4/2008 đã báo hiệu an ninh lương thực quốc gia đang bước vào thời kỳ có nhiều thử thách. Nguyên nhân của tình hình trên có nhiều, trong đó có vấn đề đất nông nghiệp nói chung, đất trồng cây lương thực, nhất là đất lúa nói riêng bị mất đi trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Đây là vấn đề lớn cần được nghiên cứu để tìm giải pháp phù hợp.
Thực trạng và xu hướng mất đất nông nghiệp
Tính đến đầu năm 2008, khu vực nông thôn nước ta có trên 13,78 triệu hộ gia đình, trong đó 70,9% là hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản. Dân số nông thôn có 61,5 triệu người, chiếm 72% dân số cả nước. Lao động nông thôn chiếm trên 60% lao động xã hội trong đó 80% làm nông nghiệp. Quỹ đất nông nghiệp có gần 9,3 triệu ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 6 triệu ha, riêng đất lúa 4,1 triệu ha. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 7 năm từ 2001 đến năm 2007, diện tích nông nghiệp cả nước giảm 500 nghìn ha, riêng năm 2007 mất 120 nghìn ha trong đó chủ yếu là đất trồng cây hàng năm tại các vùng đồng bằng, ven các thành phố, thị xã do xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đô thị hóa. Đất trồng lúa năm 2000 có 4,47 triệu ha, nhưng đến năm 2006 chỉ còn 4,13 triệu ha, giảm 316 nghìn ha, trung bình mỗi năm giảm 50 nghìn ha. Đất canh tác lúa giảm nhanh, khả năng tăng vụ không nhiều nên diện tích gieo trồng lúa giảm là điều tất yếu.
Đất nông nghiệp, nhất là đất lúa giảm chủ yếu do chuyển sang làm các khu công nghiệp, sân golf, đất đô thị, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, san tách hộ ở nông thôn, chuyển sang nuôi trồng thủy sản tự phát của dân…
Sau 17 năm phát triển KCN, KCX (1991-2007) đến nay cả nước đã xây dựng hơn 150 KCN khắp các tỉnh thành. Diện tích đất tự nhiên do các KCN đang sử dụng là 32.325 ha, chủ yếu là đất nông nghiệp vùng nông thôn ngoại ô các thành phố thị xã. Diện tích đất đã lấp đầy trong các KCN là 21.367 ha, chiếm 53,4% tổng diện tích đất quy hoạch. Vùng đồng bằng sông Hồng, đất chật người đông nhưng những năm qua cũng đã xây dựng 34 KCN tập trung với diện tích đất quy hoạch là 6.455 ha, chủ yếu là đất 2 vụ lúa ăn chắc. Ngoài ra, các tỉnh trong vùng còn quy hoạch phát triển nhiều cụm công nghiệp vừa và nhỏ với diện tích hàng chục nghìn ha. Tính chung, toàn vùng đã có hàng chục nghìn ha đất 2 vụ lúa 1 vụ đông đã trở thành đất KCN, cụm công nghiệp. Vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN, KCX nhiều nhất với hàng trăm KCN, số diện tích đất nông nghiệp mất đi càng lớn, nhất là Đồng Nai, Bình Dương, ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu. Cùng với các KCN là hàng chục cơ sở dịch vụ: Căn hộ cao cấp, thể thao, giải trí, kho bãi cũng chiếm hàng nghìn ha đất. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến tháng 5/2008 cả nước có 51/64 tỉnh thành đã xây dựng 123 sân golf với diện tích 38.445 ha, trong đó có 15.264 ha đất nông nghiệp, riêng đất lúa có 2.433 ha. Vùng có nhiều sân golf nhất là Đông Nam bộ 36 cái, trong đó TP. Hồ Chí Minh có 13, Bà Rịa - Vũng Tàu có 12, Đồng Nai 4; Bình Dương 4. ĐBSCL cũng có hàng chục sân golf làm mất hàng nghìn ha đất lúa, riêng Long An có 3 sân golf đã xây dựng với 720 ha đất nông nghiệp (thực tế quy hoạch là 13 cái). Vùng đồng bằng sông Hồng cũng đã xây dựng sân golf tại Hà Tây, Hải Dương… làm mất hàng trăm ha đất lúa 2 vụ…
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh cũng làm giảm diện tích đất nông nghiệp nhất là đất trồng cây lương thực. Từ năm 1996 đến năm 2007, quá trình đô thị hóa đã diễn ra nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ khắp các vùng. Năm 2007, dân số thành thị là 23 triệu người, chiếm 27,6% tổng dân số cả nước so với 15,4 triệu người và 21% năm 1996 về 2 chỉ tiêu tương ứng. Như vậy trong vòng 10 năm dân số thành thị đã tăng lên 7,6 triệu người, tương ứng 50%, bình quân mỗi năm tăng 760 nghìn người, tương ứng 3,2%/năm, trong đó có năm tăng 9,18% (1997), chủ yếu do điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách tỉnh, huyện và thành lập các khu đô thị mới gần các khu công nghiệp. Đô thị hóa mở rộng đến đâu, đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lúa, thu hẹp đến đó.
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp một cách tự phát, không theo qui hoạch cũng góp phần làm mất đất trồng cây lương thực nhất là đất lúa. Từ năm 2001 đến năm 2007, các địa phương trong cả nước đã chuyển hàng chục nghìn ha đất lúa sang nuôi trồng thủy sản hoặc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp hoặc các cây trồng khác ngoài lương thực, trong đó có cả đất 2 vụ lúa, có hệ thống tưới, tiêu ổn định.
Không chỉ giảm sút về số lượng, chất lượng, độ phì của đất nông nghiệp cũng giảm dần do bị ô nhiễm nặng cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển KCN.
Điều đáng quan tâm là số diện tích đất trồng lúa giảm chủ yếu là đất thuộc loại "bờ xôi ruộng mật", cấy 2-3 vụ/năm, ven các đô thị lớn, có hệ thống công trình thủy lợi khá hoàn chỉnh. Vì vậy, số diện tích lúa giảm trong những năm qua không đơn thuần là mất số lượng đất mà quan trọng hơn là giảm cả chất lượng và năng suất cây trồng.
Vấn đề đặt ra đối với nước ta hiện nay là tìm các giải pháp phù hợp, trong đó có giải pháp ổn định đất nông nghiệp, nhất là đất lúa để vừa giữ vững an ninh lương thực quốc gia, vừa thực hiện kế hoạch xuất khẩu gạo ở mức nhất định.
Giải pháp ổn định đất nông nghiệp, nhất là đất lúa.
Để đảm bảo giữ vững an ninh lương thực quốc gia, về lâu dài cần nghiên cứu, thực hiện một hệ thống các nhóm giải pháp tích cực, đồng bộ từ sản xuất đến quản lý thị trường trong nước và điều hành xuất khẩu gạo. Trong các nhóm giải pháp đó, trước hết và quan trọng nhất là cần tập trung phát triển sản xuất lương thực theo hướng ổn định diện tích và thâm canh tăng năng suất cây lương thực (lúa, ngô).
Các giải pháp chủ yếu là:
Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp theo hướng đất nào cây ấy. Quy hoạch sử dụng đất gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước, từng vùng và từng địa phương, vùng sản xuất lương thực hàng hóa với hệ sinh thái cây trồng, quy mô lớn, chất lượng cao. Trên cơ sở đó bổ sung, điều chỉnh quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trên vùng đất phù hợp với phương châm ổn định đất trồng lúa lâu dài, khắc phục tình trạng chuyển đổi, san nhượng tự phát. Hoàn chỉnh quy hoạch sản xuất lúa, ngô trên phạm vi cả nước theo hướng tập trung đầu tư các vùng trọng điểm có thế mạnh về sản xuất hàng hóa như 2 vùng trọng điểm lúa đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long. Quy hoạch vùng sản xuất ngô qui mô lớn, thâm canh cao như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, miền núi phía Bắc.
Đổi mới phương thức quản lý đất nông nghiệp. Quản lý chặt, bảo vệ toàn bộ đất lúa hiện có. Theo hướng đó, từ nay đến năm 2015 cần ổn định diện tích canh tác lúa ở mức 4 triệu ha. Nghiêm cấm việc chuyển đất 2 vụ lúa ăn chắc sang các mục đích khác ngoài quy hoạch của nhà nước. Để thực hiện giải pháp này, đề nghị bổ sung vào Luật Đất đai một số quy định nghiêm ngặt về quản lý và bảo vệ đất lúa, coi đất lúa là tài sản quốc gia, không được xâm phạm. Hướng sửa đổi là làm rõ vai trò của nhà nước, hộ nông dân trong các quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, chuyển dịch, chuyển nhượng đất nông nghiệp. Cùng với Luật, ngành Tài nguyên và Môi trường cần đổi mới phương thức quản lý đất nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nói riêng theo hình thức thích hợp. Hướng lâu dài là chuyển từ phương pháp quản lý đất đai hành chính sang quản lý thị trường đất đai. Việc cấp phép cho các dự án đầu tư, xây dựng các KCN, KCX cũng như chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất lúa sang các loại đất khác nhất thiết phải theo qui hoạch thống nhất của nhà nước và đền bù theo giá thị trường, có sự tham gia của hộ nông dân.
Đổi mới chính sách tài chính về đất đai theo hướng thu hẹp khoảng cách về giá đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Quá trình thu hồi đất nông nghiệp của hộ nông dân để xây dựng KCN, KCX, khu dịch vụ cao cấp, đô thị hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng cần thực hiện theo cách thức: Xoá bỏ cơ chế 2 giá, thực hiện 1 giá đất khi thu hồi đền bù theo giá thị trường. Giải pháp này khắc phục được nhược điểm hiện nay là các doanh nghiệp được nhận đất nông nghiệp đền bù theo giá nhà nước quá thấp nhưng khi biến thành đất phi nông nghiệp, kinh doanh bất động sản, họ mua đi bán lại, bán cho người tiêu dùng, trong đó có hộ nông dân bị thu hồi đất với giá cao gấp hàng trăm lần, thậm chí hàng nghìn lần gây thiệt thòi cho nông dân mất đất. Giá đất nông nghiệp quá thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tỷ lệ đất lấp đầy của các KCN, sân golf quá thấp hoặc quy hoạch treo quá nhiều. Cách thức giải quyết theo hướng: Giá cả đất đai theo giá thị trường; nông dân có quyền tham gia thương thảo giá đất nông nghiệp thu hồi; cho thuê đất nông dân có quyền được hưởng tỷ lệ từ tiền thuê đất hàng năm. Thực hiện chính sách tài chính cần thiết để bảo vệ môi trường sinh thái đất đai, nguồn nước, hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, bảo vệ đô thị của đất nông nghiệp nhất là đất lúa hiện có.
Khuyến khích tăng vụ lúa, ngô và các cây lương thực có hạt khác bằng các biện pháp kinh tế, tài chính và khoa học kỹ thuật thích hợp. Nghiên cứu khả năng sử dụng diện tích lúa vụ 3 ở ĐBSCL một cách hợp lý bằng các biện pháp kỹ thuật về giống lúa, bảo vệ thực vật, cơ giới hoá các khâu, thời vụ để tận dụng khả năng đất đai, khí hậu và kinh nghiệm sản xuất lúa của nông dân, đồng thời bảo vệ độ màu mỡ của đất, phòng trừ sâu bệnh do tăng vụ. Mở rộng diện tích ngô vụ đông ở ĐBSH và các tỉnh phía Bắc lên 800 nghìn ha, ổn định diện tích các cây trồng khác như cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi tập trung quy mô trang trại là chủ yếu để góp phần cải tạo đất, đồng thời tăng sản lượng lương thực.
Thâm canh cây lương thực. Giải pháp kỹ thuật là đầu tư chiều sâu, ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất trồng trọt, chăn nuôi để tăng năng suất đi đôi với tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Phát triển và nâng cấp các công trình thủy lợi để nâng cao khả năng chống đỡ với bão, lũ, hạn hán có hiệu quả, tiến tới thực hiện tưới tiêu chủ động cho toàn bộ 4 triệu ha đất lúa, tạo tiền đề cho thâm canh cao 2 vụ lúa, các vụ ngô, tập trung với năng suất cao và ổn định. Tập trung nguồn lực của nhà nước, doanh nghiệp và nông dân để tăng cường đầu tư thâm canh lúa, ngô nhằm đạt năng suất và sản lượng cao nhất. Trong bối cảnh giá phân bón, thuốc trừ sâu đứng ở mức cao và tăng liên tục như hiện nay, nhà nước và các Tổng công ty lương thực cần có cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ nông dân sản xuất lương thực theo các phương thức phù hợp với cam kế WTO để khuyến khích người sản xuất lúa, ngô yên tâm đầu tư vốn, lao động, khoa học công nghệ, nhằm tăng vụ, tận dụng đất, thâm canh tăng năng suất, sản lượng, tăng sản lượng lúa hàng hóa.
Để thực hiện các giải pháp trên đây, nhất thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước các cấp về đất đai. Vai trò đó thể hiện chủ yếu trên các mặt: Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp gắn với quy hoạch đất đai nói chung phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, từng vùng, từng địa phương trong giai đoạn công nghiệp hoá và hội nhập. Bổ sung, sửa đổi Luật Đất đai và các chính sách kinh tế tài chính liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền và giá chuyển nhượng cho thuê đất nông nghiệp của Nhà nước và hộ nông dân, trách nhiệm của các doanh nghiệp thuê mướn, sử dụng, đền bù đất nông nghiệp, nhất là đất lúa. Tăng cường vai trò lãnh đạo, trình độ quản lý kinh tế của cán bộ, công chức các tổ chức Đảng và bộ máy chính quyền các cấp, các đoàn thể trong hệ thống chính trị, nhất là Hội nông dân trong công tác quản lý đất đai nói chung, đất nông nghiệp nói riêng. Chống đầu cơ, buôn bán đất nông nghiệp, nhất là đất lúa dưới mọi hình thức và mức độ./.








