Nói thêm về bướu não
Trước một trường hợp ung bướu nói chung và bướu não nói riêng, người ta luôn luôn dùng phương pháp xác định mô bệnh họcđể biết loại ung thư nào? Giai đoạn mấy? Từ đó biết được tiên lượng bệnh nhân. Thí dụ như bướu thần kinh đệm có nhiều loại, biếu tế bào saothì tương đối lành tính, có thể khỏi bệnh vĩnh viễn nếu trong lúc giải phẫu cắt bướu làm gọn, cắt trọn bướu. không để sót lại tế bào ung thư. Nếu là bướu nguyên bào thần kinh nguyên tuỷ bàothì phát triển rất nhanh, ngoài triệu chứng tăng áp lực nội sọ còn có thể gây tụt não, kẹt não. Tổ chức Y tế Thế giới chia bệnh bướu não làm 4 giai đoạn, khi phát hiện bệnh ở giai đoạn càng sớm thì tiên lượng bệnh càng khả quan.
GSBS Nguyễn Chấn Hùng và TSBS Cung Thị Tuyết Anhđã thực hiện một công trình nghiên cứu về bướu não, cho kết quả: xuất độ của bướu não nguyên phát từ 0,3 - 2/100.000 dân, thấp hơn ở các nước phương Tây (14/100.000 dân). Trong số 390 bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện Ung Bướu TP HCM, có 223 là nam giới (57,2%), 167 là nữ giới (42,7%); tuổi trung bình là 40 (bệnh nhân nhỏ nhất 15 tuổi, lớn nhất 76 tuổi); 96% chỉ có một bướu; kích thước trung bình của bướu 5,5cm; vị trí bướu: 91% trên lều tiểu não; xếp loại mô bệnh học: giai đoạn I (2,1%), giai đoạn II (23,3%), giai đoạn III (46,9%), giai đoạn IV (26,5%).
Các bệnh nhân đếnkhám và phát hiện bệnh có tuổi dưới 50 thì thời gian sống còn trung bình trên 63 tháng, nếu phát hiện bệnh ở tuổi trên 50 thì thời gian sống còn chỉ hơn 9 tháng.
Thời gian sống còn càng dài nếu phát hiện bệnh giai đoạn càng sớm.
Do tuổi trung bình của bệnh nhân Việt Nam trẻ hơn (40 tuổi so với các nước phương Tây 55 - 60), đa số được chẩn đoán ở giai đoạn III nên thời gian sống còn dài hơn so với bệnh nhân bướu não trong các nghiên cứu của châu Âu và Mỹ.
Bướu não ở trẻ em có một số đặc điểm khác với người lớn. Theo BS Trần Chánh Khương và cộng sự, ghi nhận ung thư ở thành phố Hồ CHí Minh cho thấy: bướu não chiếm 12,3% tổng số các ung thư trẻ em dưới 15 tuổi. Căn nguyên của bướu não chưa được rõ, người ta nhận thấy chúng có liên quan đến một số yếu tố di truyền và gia đình, nguy cơ bướu não cũng gia tăng ở trẻ có tiền căn xạ trị sọ não; các yếu tố khác như ức chế miễn dịch, hoá chất sinh ung, virus chưa có bằng chứng rõ trong bệnh sinh bướu não.
Khác với người lớn vị trí bướu não trẻ em thường gặp ở dưới lều hơn. Ở trẻ em, triệu chứng bệnh không rõ như ở người lớn do các chức năng thần kinh chưa hoàn chỉnh, trẻ không thể mô tả rõ các triệu chứng và hộp sọ của trẻ nhỏ còn dãn nở nên triệu chứng tăng áp lực nội sọ cũng trễ và không rõ ràng như ở người lớn.
Diễn tiến bướu não trẻ em khi không được phát hiện và điều trị sớm.
Lan tại chỗ: gây chèn ép và phá huỷ các cấu trúc chung quanh. Một số trường hợp bướu ăn lan trực tiếp ra khỏi hệ thần kinh như xâm lấn xương sọ, da đầu.
Lan theo dịch não tuỷ:gieo rắc tế bào thần kinh và ống tuỷ sống và cho di căn xa.
Di căn theo đường máurất ít, thường đến phổi, gan và xương.
Mục đích điều trị là tiêu diệt bướu và ít gây tổn thương mô lành nhất. GSBS Nguyễn Chấn Hùng cho biết: điều trị bướu não ác tính phải kết hợp đa mô thức: phẫu thuật, xạ trị và hoá trị; nhằm kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân (giảm hoặc hết các triệu chứng tăng áp lực nội sọ, dấu hiệu thần kinh định vị và rối loạn nhận thức).
Phẫu thuậtcó vai trò hết sức quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bướu não. Tốt nhất là mổ lấy trọn bướu khi bướu có giới hạn rõ so mới mô lành chung quanh, nhưng hầu hết bướu có giới hạn không rõ nên không thể cắt bỏ được.
Xạ trịsẽ giúp tiêu diệt các tế bào bướu còn sót lại sau phẫu thuật. Trước đây dùng máy Cobalt 60 vẫn có kết quả khả quan, hiện nay đã có kỹ thuật gia tốc 3D rất chính xác, liều lượng phóng xạ được tính toàn phù hợp, cho hiệu quả cao.
Phương pháp dùng dao gammacó ý kiến không đồng thuận, đây là một kỹ thuật xạ trị dùng nhiều chùm tia gamma (khoảng 2.000) chiếu hội tụ vào một vị trí, nhằm tiêu diệt tế bào nơi đó, thay cho dùng dao mổ lấy đi, nên gọi là dao gamma.
Theo TS Vutisiri Veersarn - Khoa xạ Bệnh viện Sariraj, Đại học Mahidol: Dao gamma có vai trò không nhiều trong điều trị bướu não. Chỉ được dùng trong các trường hợp: bướu lành, kích thước nhỏ 2 - 3 cm; bướu màng não nhỏ; bướu dây thần kinh VII, sẹo do chấn thương trên vỏ não (gây động kinh); dị dạng mạch máu não; di căn tại não của bướu ác tính. Các loại bướu ác tính nguyên phát như bướu thần kinh đệm không nên dùng dao gamma vì kích thước lớn, trong khi trường chiếu của dao gamma chỉ tập trung vào một chỗ nên không hiệu quả, tế bào ung thư vẫn tiếp tục phát triển.
Về hoá trị liệu, trước đây người ta cho rằng rất ít vai trò trong điều trị bướu não vì thuốc không qua được hàng rào mạch máu - não. Hiện nay, người ta biết thuốc mới như temozolomide có thể thấm qua được hàng rào này. Bản thân bướu khi phát triển cũng gây tổn thương hàng rào máu não và tạo điều kiện cho thuốc đi vào.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 338, 15 - 8 - 2007, tr 28








