Những vị thuốc từ quả mơ
Thành phần hoá học của mơ
Trong thịt mơ có chừng 2,5% axít và 27% đường. Trong dung dịch mơ có axít pangamic chính là vitamin B15.
Mơ có tác dụng tốt hơn khi cho thêm đường, đó là một loại nước giải khát làm tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Nhân hạt mơ có chứa 35 - 40% dầu (gọi là dầu hạnh nhân) và 3% chất amygdalin và men amydalaza và prunaza. Amydalaza chịu tác dụng của men emunsin cho axít xyanhydric andehyt benzoic hay benzandehyt và glucoza, trong đó axít xyanhydric rất độc, do đó khi dùng nhân hạt mơ, nước cất hạt mơ phải thận trọng. Dùng để chữa ho, khó thở, nôn mửa, đau dạ dày, mỗi lần dùng 0,5 - 2 mg/ngày (24 giờ). Ô mai mơ được dùng chữa ho, long đờm, hen suyễn, khó thở phù thũng, ngậm hoặc uống, ngày 3 - 6g. Ô mai mơ còn chữa giun chui ống mật, chữa chai chân, chữa trĩ.
Đơn thuốc có mơ
Chữa kiết lỵ, khát nước:ô mai mơ 2 - 3 quả, thêm 300 ml nước, đun sôi 15 - 20 phút, dùng uống thay nước trong ngày.
Chữa giun chui ống mật:ô mai mơ 2 quả, thêm 300 ml nước, đun sôi 20 phút, cho ít đường vừa ngọt, uống tối trước khi đi ngủ.
Chữa băng huyết:ô mai mơ 7 quả, đốt tán nhỏ, chia 3 lần uống trong ngày, hoặc dùng nước cơm sánh đặc chiêu thuốc để uống.
Ho kinh niên:Dùng thịt ô mai (sao qua), anh túc (bỏ gân, sao mật) lượng bằng nhau, tán nhỏ, lúc gần đi ngủ uống 7 - 8 g với mật.
Mùa hè nóng bức mỗi gia đình nên có một bình ngâm quả mơ chín vàng theo công thức: 1 kg mơ tươi, 1,2 kg đường để 1 năm hoặc hơn, uống mỗi lần 1 cốc nhỏ đá, giúp tăng sức đề kháng, phòng chống các bệnh tim mạch, tiêu hoá, hội chứng lỵ, hô hấp...








