Những vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ giá trị lịch sử - văn hoá di tích Hắc Y
Di tích khảo cổ học Hắc Y là một quần thể kiến trúc cổ rất có giá trị về lịch sử và văn hoá. Trong hội thảo gần như thống nhất đây là kiến trúc Phật giáo thuộc thời Trần (có ý kiến cho là Trần sớm), có ý kiến cho là đây là kiến trúc phật giáo thời Lý được nhà Trần trùng tu, tôn tạo và mở rộng, không những thế nó còn là “Hành cung” tiền phương của nhà Trần chỉ huy chiến đấu đánh quân xâm lược Nguyên – Mông (ý kiến này chưa được trình bày trong hội thảo).
Những nhận định ban đầu về chủ nhân của cụm từ di tích Hắc Y thật đáng trân trọng, công đầu thuộc về nhóm tác giả Phạm Như Hồ, TS Nguyễn Văn Quang và các cộng sự. Người viết bài này không có chuyên môn ngành khảo cổ học, lịch sử, chưa có nhiều thời gian nghiên cứu, song “điếc không sợ súng” nên mạnh dạn tham gia một số ý kiến sau:
1. Quần thể kiến trúc cổ này là kiến trúc Phật giáo có từ thời nhà Lý được nhà Trần trùng tu, tôn tạo, phát triển. Tại sao chúng tôi nói vậy vì mấy lí do sau:
- Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) lên ngôi năm 1009 là do công lao đào tạo, hướng nghiệp của cha nuôi là nhà sư Lý Khánh Vân và đại sư Vạn Hạnh. Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đã phong sư Vạn Hạnh làm Quốc sư và đạo Phật trở thành quốc giáo, nhất là sự kiện vua Lý Thánh Tông mãi đến năm 39 tuổi cầu tự ở chùa Dâu sau mơ thấy đức Phật Quan âm bồ tát dắt tay lên đài sen rồi mới sinh được Hoàng tử (chính là vua Lý Nhân Tông). Vua Lý Thánh Tông đã cho xây chùa Một cột - chùa Diên Hựu để tạ ơn đức Phật Quan thế âm bồ tát. Thời nhà Lý đạo phật rất phát triển, chùa - tháp phát triển khắp nơi, chùa - tháp được xây dựng ở những địa điểm gần sông lớn để dễ vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng công trình. Hiện nay còn tồn tại nhiều chùa là những kiệt tác kiến trúc điêu khắc của nhà Lý như: chùa Dạm (xây dựng thế kỷ 11), chùa Phật Tích (TK 11), chùa Bút Tháp (TK 12), chùa Láng (TK 12), chùa Đọi Sơn (TK 11), chùa Một cột (TK 11), chùa Kim Liên (TK 12)…
- Năm 1226 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (con trai thái uý Trần Thừa), vậy là sau hơn hai trăm năm (217 năm) qua chín đời vua trị vị đất nước, nhà Lý đã để lại cho đời sau rất nhiều dấu ấn thời đại từ mở mang bờ cõi, chống giặc ngoại xâm, mở nền Giáo dục Đại học (vua Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu Quốc Tử Giám, và mở khoa thi đầu tiên), đất nước hưng thịnh, dân chúng được tự do lại thăm viếng lễ bái chùa, cầu trời khấn phật.
- Kiến trúc là ngôn ngữ thời đại, là dấu mốc lịch sử, có sự kế thừa, trùng tu, tôn tạo và phát triển: Những văn hoa thời nhà Lý: chân tảng cánh hoa sen, lá đề, thuỷ bac cách điệu, những mảng cánh sen có khắc hoạ hình “rồng giun” do các vua nhà Lý phần lớn hiền tài, thương dân nên con rồng biểu hiện uy quyền không dữ tợn, oai phong như các triều đại về sau…
- Tiền cổ có từ thời nhà Đinh nhưng đến thời nhà Lý đất nước hưng thịnh thì tiền đồng mới thực sự phát triển, nhất là sự giao thương giữa nhà Lý và nhà Tống (1205 - 1210) và 159 đồng tiền Trung Quốc niên đại Thần Y Niên Bảo (Tống Triết Tông 1174 - 1175) thể hiện sự giao lưu giữa nhà chùa và nhân dân vùng Tân Lĩnh với thương gia nhà Tống Trung Quốc.
Qua bốn lý giải trên có thể sơ bộ khẳng định: chủ nhân của quần thể kiến trúc chùa tháo Hắc Y là nhà Lý (ngay trong báo cáo của TS Nguyễn Văn Quang trang 11 có câu “… những bằng chứng cho thấy ở đây đã từng hiện diện của ngôi chùa nhà Lý” đã được nhà Trần và các thế hệ sau đó trùng tu, tôn tạo và phát triển mở rộng.
2. Quần thể kiến trúc Hắc Y, ngoài vai trò là trung tâm lớn của Phật giáo (chùa tháp) còn là căn cứ quân sự:
Trong tâm tưởng người dân vùng Bến Lăn - Tân Lĩnh luôn luôn nhớ về đình Bến Lăn có nghĩa là tại đây có ngôi Đình có thể đây là Đình Trạm (theo nghĩa Hán cổ là dừng lại) là nơi nghỉ của người chuyển công văn, thư tín của triều đình đến dinh trấn của vương hầu, các quan phủ, quan huyện… hơn nữa khảo cổ học tìm thấy dấu tích của trường đua ngựa. Ngựa là phương tiện giao thông nhanh nhất để cho các phu trạm đổi ca truyền tiếp thông tin.
2.1 Năm 1075 Lý Thường Kiệt chia quân làm hai mũi để phá âm mưu xâm lược của nhà Tống. Mũi tiến quân đường bộ do Phó tướng Tôn Đản cùng quân của các tù trưởng Thân Cảnh Phúc, Vi Tú An, Hoàng Kim Mãn của các vùng dân tộc và cánh quân thứ hai do Lý Thường Kiệt đi đường biển tiến đánh vào Châu Ung, Châu Liêm của Trung Quốc.
- Sau lần bị quân dân nhà Lý đánh bại âm mưu xâm lược của nhà Tống, để đánh trả thù và xâm lược Việt Nam , nhà Tống phải cho quân do thám trước, mà do thám hiệu quả chỉ có cách là giao nhiệm vụ này cho thương nhân. Điều này lý giải những đồng tiền nhà Tống (cùng thời với nhà Lý) có mặt ở Hắc Y.
2.2 Hốt Tất Liệt đã đưa đội quân thiện chiến xâm lược Trung Quốc, tiêu diệt nhà Tống lập nên đế quốc Nguyên – Mông. Nhà Trần đã nhận rõ âm mưu của nhà Nguyên muốn thôn tính nước ta nên đã cử Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật trấn giữ Châu Thu Vật (Lục Yên, Yên Bình ngày nay).
- Trần Nhật Duật là nhà ngoại giao và nhà quân sư tài ba, có tầm chiến lược sâu sắc, tôi tin chắc rằng khi khảo sát thực địa nhận thấy khu vực Hắc Y - Tân Lĩnh là nơi đắc địa: Dùng quân thuỷ, bộ tiến công quân giặc thì chắc thắng, khi thủ hiểm thì giặc không thể chiếm được thành, nên ông đã cho xây dựng “Hành cung” tiền phương ở đây để phát hiện địch từ xa, đánh địch từ xa. Việc xuất hiện tiền nhà Nguyên ở khu di tích, chứng tỏ thân nhân nhà Nguyên đã có mặt ở đây vừa buôn bán vừa do thám tình hình bố phòng của nhà Trần để báo cáo triêề đình nhà Nguyên quyết định chiến lược xâm chiếm nước ta.
Việc xác định cụ thể vị trí của Đình Trạm có thời nhà Lý và “Hành cung” tiền phương của Trần Nhật Duật cần phải tiếp tục khai quật khảo cổ để có thêm di vật và nghiên cứu thêm các nguồn tư liệu minh chứng cho nhận định này.
3. Vật liệu xây dựng được sản xuất ở đâu để dựng nên quần thể di tích kiến trúc Hắc Y rộng lớn này?
- Theo các tác giả và phần lớn các giáo sư khảo cổ đều nhận định rằng: vật liệu xây dựng và các đồ gia dụng, đồ thờ cúng đều được sản xuất tại chỗ do tìm được dấu tích của hai lò gốm? Nếu nhận định như vậy là thiếu căn cứ khoa học và cảm tính vì do nguyên liệu đất ở đây không đảm bảo tiêu chuẩn lý – hoá cho sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là đồ dùng và đồ thờ cúng bằng sứ - bằng chứng là các hiện vật tìm thấy đã nói lên điều đó “phần lớn các hiện vật ở đây đều không thật quy chuẩn, gạch, ngói thì cong vênh.. bở và dễ vỡ” (trang 39 báo cáo của đồng tác giả Quang và ông Phạm Như Hồ) và tại trang 11 trong báo cáo của TS Quang cũng viết “các mảnh gốm sư bị dính với nhau, bị méo, nhiều viên ngói bị cong vênh v.v…”.
- Để khẳng định đất ở đây có làm được vật liệu xây dựng và các loại đồ dùng khác ta chỉ việc đem mẫu đất đi thử nghiệm tịa Viện vật liệu xây dựng hoặc các phòng thí nghiệm của các trường đại học và Viện nghiên cứu về cơ lý - hoá đất xem có đảm bảo tiêu chí cho sản xuất vật liệu xây dựng và đồ gốm sứ không.
- Theo chúng tôi thì người xưa chắc chắn có ý định sản xuất vật liệu xây dựng và các đồ vật khác tại chỗ nhưng do không thành công (sản xuất thử) nên đã dùng đá làm vật liệu thay thế gạch xây với tỷ lệ khá lớn, còn một phần khác thì đem từ nơi khác tới. Và thực tế cũng đã chứng minh là ngành xây dựng đã khảo sát ở vùng Tân Lĩnh không tìm được đất để sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho xây dựng thị trấn Yên Thế nên đành phải đem vật liệu từ Yên Bái lên.
4. Một số kiến nghị
- Cần tiếp tục điều tra, khảo sát khảo cổ học khu vực Hắc Y - Dõng - Bến Lăn để tìm kiếm thêm hiện vật, công trình khác không phải là chùa và ranh giới quần thể kiến trúc.
- Nghiên cứu, tìm dấu vết đô thị cổ “huyện lị”. Lục Yên thuộc châu Đô Kim thời nhà Lý, đặt ở địa điểm nào?
- Tìm mối liên hệ tương thích giữa “chất đất” (chỉ tiêu cơ - lý - hoá của đất) làm vật liệu ở Yên Bình với đất ở Tân Lĩnh.
- Để có kết luận khách quan, khoa học, biện chứng, cần phải mở rộng nghiên cứu sâu hơn nữa trên cơ sở các tài liệu về sử học đã có, kết hợp với mở rộng khai quật khảo cổ và sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành. Cần tiếp tục Hội thảo trên cơ sở có nhiều tham luận với những kiến giải khoa học. Hội thảo khoa học mà chỉ nghe “một chiều” với ý kiến “gợi ý” do thời gian Hội thảo có hạn thì e rằng không “tâm phục - khẩu phục”.
Nguồn: KH&CS tỉnh Yên Bái, số 6 - 2007, tr 15








