Những toạ độ có khả năng tìm thấy
Ở đảo Quan Lạn hằng năm có một lễ hội được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 Âm lịch kéo dài 10 ngày. Lễ hội Đình Quan Lạn vừa kỷ niệm chiến thắng giặc Mông Cổ vừa là ngày hội cầu được mùa của cư dân vùng biển, đặc biệt là của cư dân ở quần đảo Vân Đồn. Đảo Quan Lạn nằm ở khu vực trung tâm thương cảng cổ Vân Đồn, hội được tổ chức ở Bến Đình nơi có Đình Quan Lạn, lễ hội có tục đua thuyền diễn tả lại 3 lần chiến thắng quân Mông Cổ và chiến thắng của Trần Khánh Dư đánh chìm thuyền lương của Trương Văn Hổ, cũng là ngày mà nhân dân Quan Lạn kỷ niệm vị Thành Hoàng của họ. Trần Khánh Dư không những được tôn vinh là vị Thành Hoàng mà ông đã trở thành vị thánh của nhân dân vùng này, người ta rước bài vị của ông từ một ghè thờ gần đó về đình làng, hiện tại vẫn còn tượng và 18 sắc phong của các vua triều Nguyễn phong cho Thành Hoàng làng Trần Khánh Dư ở đó.
Tại sao ở Quan Lạn dân lại tôn Trần Khánh Dư làm Thành Hoàng, có phải ông đã để lại đây một dấu ấn sâu đậm khó quên, một sự kiện đi vào lịch sử mà không dễ gì vùng đất nào cũng may mắn có được, nhất là tại một vùng hải đảo nhỏ bé xa xôi.
Các thuỷ binh của Trần Khánh Dư phải làm thế nào để đánh chìm thuyền lương của địch.
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, chính biên. VIII, 4 trang 539 có chép chuyện: “… Theo kế của Quốc Tuấn, sai Nội thư gia Hoàng Thá Tốn đưa trả (Ô Mã Nhi) về nước, dùng người có tài lội nước sung làm phu chèo thuyền, nhân đem dùi thủng thuyền cho đắm, Ô Mã Nhi bị chết đuối. Nhân đấy, nhà vua phúc thư với nhà Nguyên rằng: “Vì thuyền rỉ nước bị đắm, quan tham chính sức to lớn, không sao cức được, thành ra chết đuối”.
Đó là một câu chuyện làm ta suy ngẫm và từ đó có thể hiểu được phương pháp mà Trần Khánh Dư áp dụng, cũng có thể trong khi bàn luận các kế hoạch, sách lược, phương pháp tác chiến trên bộ và dưới nước thì Trần Hưng Đạo, Dã Tượng, Yết Kiêu và Trần Khánh Dư cũng đã tính toán đến giải pháp này đối với thuyền lương của Trương Văn Hổ.
Trần Khánh Dư lại là người am hiểu về các chức năng, kết cấu, sơ đồ thiết kế các loại thuyền vận tải có trọng tải lớn.
49 năm sau, nhân việc vua Trần Minh Tông nói với Hưng Hiếu Vương, người ta mới biết Trần Khánh Dư là một người có khả năng chế tác ra nhiều loại thuyền, kể cả thuyền đi trên các địa hình khác nhau “Khánh Dư đi đánh Nam Nhung, từ Nghệ An đi bộ mấy ngày, đến sông Nam Nhung mới đục gỗ làm thuyền…”. ( Đại Việt sử ký toàn thư, tr 125).
Đại Việt sử ký toàn thư,trang 48 lại chép một chuyện khác về khả năng lái thuyền của Trần Khánh Dư: “… Lúc đó thuyền vua đỗ ở bến Bình Than, nước triều rút, gió thổi mạnh, có chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo quần ngắn vua chỉ và bảo quan thị thần: “Người kia chẳng phải là Nhân Huệ Vương đó sao? Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo… Đến cửa Đại Thân thì kịp”.
Trong suốt những ngày làm nghề bán than ở Chí Linh có lẽ Trần Khánh Dư đã có nhiều thì giờ nghiên cứu cách thiết kế và đóng thuyền và nghiền ngẫm một kỹ thuật tối ưu để đánh đắm các thuyền lương của quân địch.
Với 70 thuyền lương có trọng tải lớn từ 160 tấn trở lên cộng thêm 30 thuyền chiến hộ tống, thì Trần Khánh Dư chỉ cần từ 100 đến 150 chiến thuyền là có thể áp đảo kẻ thù một cách dễ dàng, có thể Khánh Dư sẽ dồn các thuyền lương của Trương Văn hổ vào một điểm nào đó và bốn mặt cùng đổ ra tấn công thì kẻ thù khó lòng thoát được.
Quan sát sơ đồ thiết kế đáy của một chiếc thuyền chở hàng hoá như thuyền chở lương chẳng hạn, đáy thường bằng phẳng, bầu chứ không nhọn như các thuyền chiến, đáy của thuyền 160 tấn vào khoảng 1 m bề ngang, với 1 m thì ít nhất phải có 3 miếng gỗ dày trung bình trên dưới 10 cm hoặc nhiều hơn ghép lại còn ở hai bên mạng thuyền có khoảng 20 đến 30 miệng ghép xuôi theo thân thuyền, mớn nước sau khi chở đầy hàng phải cao hơn mặt nước biển từ 1 m đến 1,5 m.
Có thể Trương Văn Hổ sẽ cho thiết kế thuyền chở lương có đáy và mũi thuyền tương đối ít nhọn hơn là các thuyền đi biển bình thường vì các thuyền này chỉ di chuyển trong vùng biển vịnh Hạ Long là một vùng tương đối biển yên, ít sóng lớn hơn ở ngoài khơi, vả lại nó sẽ thuận lợi hơn khi vào sông Bạch Đằng.
Thao tác của ba hay bốn người ở dưới nước đều được huấn luyện thuần thục thì để tháo rời hay đục thủng đáy thuyền chỉ mất trong vòng 15 phút, lương thực nhất là gạo hay lúa sẽ nhanh chóng ngấm nước và thuyền sẽ tự chìm trong vòng vài giờ sau đó.
Trần Khánh Dư chỉ cần 300 quân được huấn luyện là đủ sức thành công.
Thuyền chiến của Trần Khánh Dư nhẹ, vận tốc cao hơn sẽ áp sát vào tất cả các thuyền lương của Mông Cổ, 4 quân nhân được huấn luyện sẽ nhảy xuống biển còn các binh sĩ khác còn lại chiến đấu nhằm bảo vệ chính cho các chiến binh đang bám ở đáy thuyền để đục thủng hay tháo rời một mảnh thuyền, các thuỷ binh trên thuyền chiến sử dụng cung tên, giáo mác, hay bằng hoả công… để mục đích là gây rối loạn và chỉ cần một giờ sau khi tiếp cận mục tiêu là có thể rút lui khỏi trận địa.
Sở dĩ Trương Văn Hổ chạy thoát ra Hải Nam được vì ông ta may mắn đang ở trên chiến thuyền, mà chiến thuyền thì không phải là cái đích của Trần Khánh Dư tấn công.
Trận chiến sẽ có thể xảy ra sau buổi trưa và kết thúc trước khi trời tối vì lúc đó sương mù vừa tan trên vịnh Bắc Bộ.
Điều kiện tối ưu cho việc tấn công
Lộ trình mà Ô Mã Nhi và Trương Văn Hổ chọn ít nhất là phải có những điều kiện sau: An toàn, ngắn nhất, có tầm quan sát rộng và ít xảy ra các biến cố trong khi di chuyển.
Quan sát từ Trà Cổ là một làng thuộc huyện Móng Cái trải dài trên một đảo cát, từ Mũi Ngọc cho đến Sa Vĩ giáp với Trung Quốc, ta có hai con đường, một con đường của di dân ở Đồ Sơn đến lập nghiệp ở Trà Cổ cách đây 500 năm, con đường này đi sát gần bờ với vô vàn đảo nhỏ nằm rải rác từ Vịnh Hạ Long, Bãi Tử Long, đảo Cái Bầu, Trà Cổ… lộ trình này mất hết 3 ngày.
Nếu Ô Mã Nhi hay Trương Văn Hổ đi theo con đường này thì rất dễ bị tập kích từ nhiều điểm trên các hải đảo kể cả trên đất liền, chỉ có một cái lợi là mặt nước quanh năm rất êm, không sóng.
Lộ trình thứ hai là đi vòng ra ngoài các đảo đó là lộ trình lý tưởng mà các thuyền buôn di chuyển, đường này cũng mất hết 3 ngày. Nếu đi đường này ít bị tập kích và tầm quan sát rộng hơn, vả lại rất dễ liên lạc với Khâm Châu và Hải Nam .
Đối với Trần Khánh Dư thì việc chọn lựa các địa điểm để tấn công thuyền lương của địch trên lộ trình thì phải ít nhất cũng có một số yếu tố nhất định là: Bất ngờ, địa điểm ém quân không quá xa thuyền lương của địch, địch khó quan sát và khó chi viện cho nhau, ở xa căn cứ xuất phát và yểm trợ.
Những điểm như trong Vịnh Hạ Long hay ở nơi Cửa Lục thì hầu như không hợp lý nếu theo cách tính toán này.
Đó là các dịa điểm như Mũi Ngọc, Vinh Thực, Cô Tô, Quan Lạn, Long Châu, Cửa Nam Triệu, eo biển nằm giữa thị trấn Cát Hải và Phú Long - Cát Bà là những điểm mà phù hợp với các điều kiện tác chiến.
Mũi Ngọc và Vinh Thực đang là dưới quyền trực tiếp chỉ huy của Nhân Đức Hầu Trần Da.
Cửa Nam Triệu và eo biển nằm giữa thị trấn Cát Hải và Phú Long - Cát Bà quá gần vùng thuyền chiến của Ô Mã Nhi đang hoạt động.
Long Châu thì trống trải và khó ém quân, khó quan sát nằm lẻ loi ở giữa biển.
Có lẽ Cô Tô, Quan Lạn là địa điểm thuận lợi nhất để thực hiện ý đồ này.
Quan Lạn là một đảo dài khoảng 23,5 km, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 1,5 km, chỗ hẹp khoảng 500 m, nằm ở 107 0,30 phút kinh đông và 20 0,50 phút vĩ bắc là đảo án ngữ ngoài cùng của Vịnh Hạ Long, phía đông cách quần đảo Cô Tô khoảng hơn 20 km, phía bắc cách đảo Ba Mùn (Cao Lô) bởi một eo biển nhỏ gọi là Cửa Đối, phía tây quay lưng với đảo Cái Bàn (Trà Bản), chân của đảo Quan Lạn là hai đảo Phượng Hoàng và đảo Thượng Mai.
Đảo Quan Lạn nằm trên con đường mà các thương thuyền qua lại cũng là nơi có nhiều giếng nước ngọt.
Quần đảo Cô Tô nằm cách thành phố Hạ Long non 70 km gồm có 17 hòn đảo lớn nhỏ, nơi nổi tiếng có nhiều ngọc trai, hải sâm bào ngư và các rặng đá san hô, có hai đảo lớn là Cô Tô và Thanh Lâm, chiều dài của đảo khoảng gần 10 km, ngang 2,5 km, trên có núi cao có thể nhìn bao quát khu vực này.
Toạ độ 107 0,25 phút kinh Đông và 20 0,46 phút vĩ Bắc là toạ độ lý tưởng mà Trần Khánh Dư phục kích
Đảo Quan Lạn, Phượng Hoàng, Thượng Mai, Hạ Mai và đảo Nấc Đất tạo thành một cái túi mà đường bán kính khoảng 2,5 km, trong khi đó đảo Cô Tô như một đài quan sát rất thuận lợi mặt biển vùng này, chỉ cần một mũi tấn công ngang sường của đoàn thuyền lương từ phía đảo Cô Tô là đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ có thể dạt vào vùng phục kích này ngay.
Toạ độ này giới hạn từ 107 0,23 phút đến 107 0,27 phút kinh đông và 20 0,44 phút đến 20 0,48 phút vĩ bắc có thể là nơi thuận tiện nhất cho cuộc tập kích này và dưới đáy của nó ắt là sẽ có xác thuyền lương của Trương Văn Hổ đã chìm cách đây đúng 713 năm với một lỗ thủng nằm cách đầu của mũi thuyền khoảng 2,5 m, chúng có thể tìm thấy ít nhất là vài cái chén, tô, lu, vại, gươm giáo tiền đồng Mông Cổ vào thế kỷ thứ XVIII…
Trong Đại Việt sử ký tiền biêntrang 374 sử gia Ngô Thì Sĩ đã nhận định và khen ngợi công lao của Trần Khánh Dư với trận Hải chiến ở Vân Đồn như sau: “Việc đánh lui giặc Hồ ở đời Trung Hưng, ai cũng khen nhiều về chiến thắng sông trên Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo, mà không biết đến trận chiến thắng Vân Đồn của Trần Khánh Dư, trận chiến thắng đó rất kỳ diệu và rất là căn bản cho trận chiến thắng sau đấy. Ba đường tiến công bằng thuỷ bộ của giặc Nguyên đều trông vào thuyền lương vận tải đường biển. Đại quân đã đến mà thuyền lương chưa đến, trèo lên núi Thú Dương mà hô canh quý, ngong ngóng chờ lương thực một sớm một chiều phải đến lâu rồi. Cho nên từ khiThoát Hoan xâm phạm kinh sư lập tức sai Ô Mã Nhi ra cửa biển Đại Bàng đón thuyền lương của Trương Văn Hổ, nhưng không gặp phải quay về. Không bao lâu lại ra Đại Bàng đến Tháp Sơn rồi lại đến An Bang tất cả chỉ vì đón Trương Văn Hổ chúng có ngờ đâu số lương 170.000 thạch đã chìm hết ở Vân Đồn và Trương Văn Hổ đã trốn chạy từ lâu rồi. Đi đón đã lâu mà rốt cuộc lương không đến vì thế mà ba quân (Mông Cổ) đói khát, lương thực đã không có, đồng nội cũng không cướp được gì. Tướng sĩ đều mang lòng căm phẫn. Ép họ chiến đấu thì họ trả lời: “Ốm đau không chiến đấu được”. Dụ họ ở lại thì họ trả lời: “Lương hết không thể ở lại được”. Họ đã quyết kế về thì không cần ta phải đuổi, tin chiến thắng về Bạch Đằng chỉ làm tăng thêm binh uy mà thôi. Còn trận đón đánh ở Vân Đồn là chẹt con hổ mà cướp lấy mồi, lòng tham hau háu mà không được thoả vốn đã bị bẻ gãy móng và đập gãy răng rồi.
Mưu tính liệu và công chiến thắng địch của Trần Khánh Dư cũng vĩ đại thay”.
Chiến thắng đó có thể nằm ở toạ độ 107 0,25 phút kinh đông và 20 0,46 phút vĩ bắc không?
Những địa điểm khác cần tham khảo thêm là vùng chung quanh đảo Long Châu và eo biển nằm giữa thị trấn Cát Hải và Phú Long - Cát Bà.
Nghiên cứu này rất mong sự chỉ giáo của quý vị.
- Sẽ bao nhiêu phần trăm thành công trong công việc khám phá ra kho tàng quân lương, khí giới của quân Nguyên ở đáy vịnh Hạ Long?
- Có thể từ 10% đến 30%.
- Những gì có thể xảy ra nếu như người ta tìm thấy chúng?
Có thể điều này sẽ chứng minh được sự đồng cảm của hiện tại về quá khứ, chứng minh được chiến thuật, chiến lược của kế hoạch xâm lược của Hốt Tất Liệt, Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ và kế hoạch ứng phó của triều đại nhà Trần mà điển hình là vua Trần Nhân Tông, danh tướng Trần Hưng Đạo và Trần Khánh Dư.
Và điều này cũng xác định lại những biến cố đã ghi trong lịch sử Việt Nam lẫn Trung Quốc là có thực hay không? Qua đó, lịch sử sẽ được chứng minh rõ ràng.
Ngoài ra là yếu tố để các nhà nghiên cứu sử có cơ hội nhìn các vấn đề thuộc về quá khứ một cách chính xác hơn.
- Ai sẽ có lợi trong nghiên cứu này?
Dĩ nhiên, người được hưởng lợi nhất là người Việt Nam , vì trong kho tàng văn hoá lịch sử, trong các viện bảo tàng sẽ có thêm một số cổ vật để trưng bày và trao đổi.
Và cũng có thể từ đó sẽ giúp thêm cho nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu có bằng chứng để làm phong phú hơn cho các công trình của họ.
Nguồn: Xưa & Nay, số 294, 10 - 2007, tr 32








