Những ngày cuối cùng của người Mỹ ở Sài Gòn năm 1975
…Vào tháng 12-1974, rõ ràng là Bắc Việt Nam đã tập trung một lực lượng áp đảo ở biên giới Nam Việt Nam . Người ta có thể đặt câu hỏi rằng những người lãnh đạo Cộng sản có ý định gì? Điều đó đã đưa đến những cuộc tranh luận sôi nổi ở Hà Nội, còn các nhà phân tích của tổ chức tình báo chúng ta cũng làm việc về những vấn đề như vậy ở Washington . Cả hai phía đều đi đến một kết luận như nhau: Hà Nội sẽ phát động cuộc tấn công vào Nam Việt Nam trong năm 1976, để lợi dụng những áp lực gây nên do cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ. Nhưng phía Cộng sản sẽ mở cuộc tấn công mở đầu vào mùa xuân năm 1975 để duy trì căng thẳng ở miền Nam và trong dư luận Hoa Kỳ. Tất nhiên, nếu thời cơ đến, Hà Nội sẽ không bỏ qua và đẩy mạnh lợi thế xa hơn nếu có thể.
Tháng 1-1975, nhằm đương đầu với những áp lực ngày càng tăng, chính phủ Ford đề nghị Quốc hội cấp cho ngân sách bổ xung là 300 triệu đô la để hỗ trợ quân sự cho Nam Việt Nam . Quốc hội không giấu được sự thù địch. Tôi cố ủng hộ đề nghị đó bằng việc chứng minh sự gia tăng của lực lượng Bắc Việt Nam , nhưng không ai chú ý cả. Hơn nữa, tôi không thể cống hiến mọi sức lực cho vấn đề Việt Nam, vì bản thân tôi cũng đang phải bảo vệ cho C.I.A từ cuối năm 1974, chống sự công kích ồ ạt của Quốc hội. Sự việc liên quan đến nhiều trường hợp, mà 25 năm trong lịch sử của mình, C.I.A đã vượt qua những giới hạn cho phép. Việc đó được tố lên và bi kịch hoá đến mức sự tồn tại của C.I.A cũng bị đe doạ.
Tháng 1-1975, Bắc Việt Nam mở cuộc tấn công lớn vào tỉnh Phước Long, cách phía bắc Sài Gòn khoảng 120 km. Gọi là tỉnh có lẽ cũng hơi quá đáng để chỉ một vùng chỉ gồm toàn đồi không người ở và đầy cây cối rậm rạp che khuất vài ngôi làng nghèo khổ nối liền nhau bằng một con đường đất. Tổng thống Thiệu đặt thành một tỉnh để buộc chính quyền phải chú ý đến và đưa một vài cộng đồng người Bắc di cư tới để bảo vệ con đường dẫn về Sài Gòn mà những người Cộng sản muốn khai thác. Nhưng Bắc Việt Nam chọn đó làm điểm tấn công đầu tiên năm 1975 là để xem phản ứng của phía Sài Gòn-và của Mỹ-trước khi tiếp tục cuộc xung đột chính thức, mặc dầu đã có những hiệp nghị hoà bình. Vả lại vùng này gần những kho dự trữ khí tài và là khu vực nghỉ ngơi của cộng sản nằm đầu con đường ống dẫn dầu đưa từ miền Bắc tới.
Cuộc thử nghiệm đã đạt kết quả. Tổng thống Thiệu quyết định không thể mạo hiểm đưa máy bay trực thăng tới để phản ứng có hiệu quả và hình như người Mỹ cũng không có hành động gì. Yêu cầu hỗ trợ bổ sung mà Tổng thống Ford đưa ra hồi tháng 1 không gây được sự chú ý của Quốc hội, cũng như báo cáo công bố sự có mặt của 289.000 quân Bắc Việt ở miền Nam với hàng trăm xe tăng, pháo hạng nặng và vũ khí hàng không. Biết rằng người Mỹ sẽ không can thiệp và Thiệu phải phòng ngự bằng hỏa lực hạn chế, Bắc Việt Nam hoàn toàn yên tâm để chuyển sang giai đoạn tấn công thứ hai.
Như vậy họ có thể chuẩn bị một cuộc tấn công quy mô lớn dựa trên những dữ liệu sau: thiếu sự yểm trợ của người đồng minh hùng mạnh và với sức mạnh vũ khí kém hơn đối thủ, Sài Gòn sẽ gặp nhiều khó khăn về mặt tinh thần của binh lính.
Họ mở cuộc tấn công cuối cùng vào gần cùng một nơi, dọc theo biên giới, giống như năm 1972. Những sai lầm kỹ thuật kéo theo sự thất bại của quân đội Nam Việt Nam tại nhiều điểm. Chỉ huy vùng núi ra lệnh rút lui, theo đúng chỉ thị của Tổng thống Thiệu, và để cho bộ tham mưu và các thuộc cấp tự định liệu. Binh lính và gia đình họ rút lui theo những con đường không quen thuộc. Về phía Bắc, tổng thống Thiệu đưa ra những mệnh lệnh hoàn toàn mâu thuẫn cho những đơn vị không vận ưu tú: trước tiên là cầm cự trước sự tấn công của kẻ thù, rồi rut lui trước tấn công như ở phía Nam , cuối cùng là phòng thủ cố đô Huế.
Kết quả là cuộc kháng cự quân sự hoàn toàn sụp đổ ở phía Bắc và phía Trung Nam Việt Nam . Bắc Việt Nam áp dụng chiến thuật cơ bản, lợi dụng sự kháng cự yếu kém trên đường tiến quân. Ngay cả trước khi họ tiến công, lực lượng Nam Việt Nam đã biến thành một đám người riêng rẽ chỉ tìm cách cứu mình và gia đình mình. Tại Hội đồng An ninh quốc gia ở Washington, chúng tôi chỉ có thể nhận thấy một cách bất lực trong khi tôi trình bày các báo cáo tình báo cho thấy cuộc đổ quân không gì lay chuyển được của lực lượng chính quy Bắc Việt Nam dọc theo bán đảo và báo hiệu sự tan rã sắp xảy ra của hệ thống phòng thủ Nam Việt Nam.
Việc đó gợi lại mạnh mẽ trong tôi sự sụp đổ của nước Pháp trước sự tấn công chớp nhoáng của các sư đoàn thiết giáp Đức năm 1940, khi lực lượng phòng thủ Pháp thiếu chuẩn bị, không những bị đánh bại, mà còn tan rã thành những cá nhân riêng rẽ chạy trốn trước cỗ xe ủi và sự chiếm đóng của Quốc xã. Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng trong quân đội Nam Việt Nam có một vài chỉ huy quân đội và những đơn vị như sư đoàn 18 ở Xuân Lộc, phía bắc Sài Gòn, đã kháng cự một cách vô vọng đến cùng trước lực lượng đối phương đông hơn. Họ đáng được nêu tên trong lịch sử Việt Nam vì tinh thần anh dũng mà họ đã chứng tỏ mặc dầu số phận rủi ro.
Sự so sánh với nước Pháp năm 1940 còn được chứng thực ở một điểm khác: sự trung lập của Hoa Kỳ đứng nhìn diễn biến của trận đánh và kết quả cuối cùng của sự can thiệp kéo dài ở Việt Nam . Tổng thống Ford và chính phủ của ông không thể làm gì để thay đổi diễn biến của thời cuộc. Quốc hội và quốc gia đã đối lập lại.
Trong những ngày cuối cùng này, những nỗ lực vô vọng đã được đưa ra nhằm vớt vát cái gì đó trong cuộc chìm xuồng tất yếu của Nam Việt Nam . Giám đốc C.I.A ở Sài Gòn, Thomas Polgar, là một người gốc Hungari, đã được bổ nhiệm vì những hoạt động đặc biệt xuất sắc ở các nước khác. Ông ta đã kết bạn với người trưởng đoàn Hungari trong uỷ ban quốc tế có nhiệm vụ kiểm soát việc thực hiện hiệp nghị hoà bình. Kết quả là có một cuộc trao đổi điện tín liên tục giữa Sài Gòn và Washington để xem người Hung có thể can thiệp được với Bắc Việt Nam hay không, và thuyết phục họ chấp nhận ngừng bắn hay mọi giải pháp phi bạo lực cho cuộc xung đột. Theo ý của tôi, như đã trình bày trong các cuộc hội nghị kéo dài ở Washington, thì có rất ít hy vọng, thậm chí là không có, vì những sự xúc tiến đó không thể đạt kết quả hơn những cố gắng trước đó của chúng ta để cho Liên Xô can thiệp nhằm đi đến một sự thoả hiệp. Và điều đó lại càng tất yếu khi tương quan lực lượng trên chiến trường cho thấy họ nhất định sẽ thắng trong cuộc chiến mà họ mong đợi từ bao lâu nay và vì nó mà họ đã hy sinh biết bao người.
Nhưng tôi cực lực phản đối đề nghị của một người Việt Nam ở Sài Gòn, theo ông ta thì một cuộc dàn xếp có thể thực hiện nếu Mỹ hỗ trợ một cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Thiệu, để thay thế bằng một nhân vật có thể được cộng sản chấp nhận. Tôi trả lời ngay rằng chúng tôi không muốn liên quan đến những loại sự việc như vậy. Nếu Nam Việt Nam phải sụp đổ, thì đành như vậy, nhưng không phải với điều nhục nhã cuối cùng là sự giật dây của người đồng minh Hoa Kỳ. Chúng tôi không thể là đồng lõa của một vụ lật đổ tổng thống thứ hai.
Có một cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề di tản ở Việt Nam . Người ta lên án chúng tôi đã bỏ rơi nhiều người Việt Nam mà chúng tôi đáng phải giúp họ ra đi và để lại sau lưng chúng tôi những bằng chứng vật chất có thể làm nguy hại đến những người đã làm việc cho C.I.A hay các cơ quan khác. Quả thật là trong số những người đáng ra đi, nhiều người còn ở lại, nhưng sự thật là có nhiều người đã ra đi. Đối với một số người, việc ra đi đó diễn ra khá sớm, nhờ sự giúp đỡ của nhiều người Mỹ, bằng những chuyến bay đặc biệt hay những sự sắp xếp vượt qua các thủ tục chính thức. Mối quan hệ giữa tôi với Tom Polgar cho phép tôi yêu cầu di tản một số nhân vật quan trọng, đặc biệt là hai thiếu phụ Việt Nam đã làm phiên dịch cho cơ quan. Tuy nhiên một trong những biện pháp đó đã kết thúc bằng một thảm kịch khi một chiếc máy bay đặc biệt của không lực Hoa Kỳ chịu trách nhiệm di tản một nhóm trẻ em mồ côi tàn tật đã mất một cánh cửa và rơi xuống ngoại ô Sài Gòn, biểu trưng cao nhất cho tính chất tàn nhẫn của tình hình.
Những cuộc cứu hộ cuối cùng phải dùng đến máy bay lên thẳng, mà đám đông tụ tập xung quanh lối vào sứ quán nhiều lần đã để cho những người Mỹ trèo qua hàng rào, trong một cử chỉ lịch sự cuối cùng đối với những người đã từng là chỗ dựa của họ. Mặc dầu sự sụp đổ, vẫn không thể cứu hết tất cả những ai muốn thoát khỏi chế độ mới. Điều đáng nói là có biết bao người trong số họ đã chạy trốn được, hoặc bằng phương tiện của chính mình, hoặc nhờ sự giúp đỡ của đồng minh. Con số thật kinh ngạc: khoảng 130.000 người Việt Nam , và tất cả những người Mỹ, đều chạy thoát khỏi quân đội miền Bắc.
Còn đối với tài liệu, nhân viên sứ quán và chi nhánh C.I.A. đã dồn hết sức lực cuối cùng để thiêu hủy không cho chúng rơi vào tay kẻ thù, và chúng tôi không bị đẩy vào những vụ án điển hình có thể đem lại nguy hại cho những người bạn bí mật, trong sự nhực nhã của chúng tôi. Nhiều người Nam Việt Nam sau đó bị đưa vào các trại “cải tạo”, nhưng đó chỉ là những người đã được biết vì tư tưởng quốc gia của họ, hay do nguồn tiết lộ của những tài liệu nằm trong hồ sơ của các cơ quan Việt Nam, chắc chắn là không phải trong hồ sơ của Mỹ. Việc di tản được hoàn tất bằng nhiều sáng kiến tư nhân của các sĩ quan hay cựu sĩ quan, trong đó có nhiều người như Gage McAfee, đã từng làm việc trong C.O.D.S. Họ tự quay trở lại Việt Nam để tìm những đồng sự cũ người Việt và theo dõi để họ không bị bỏ quên. Tucker Gougleman, cựu sĩ quan C.I.A. thì ít may mắn hơn: ông ta đến bờ biển phía Nam bằng đường biển và bị bắt. Sau đó ông ta đã chết trong tù.
Tổng thống Ford, cắt đứt mọi hy vọng hão huyền vào phút cuối, ra lệnh di tản hoàn toàn sứ quán Mỹ lúc 3 giờ 45 phút sáng ngày 30 tháng 4-1975. Trước đó không lâu, Tom Polgar phụ trách C.I.A. bên đó, có gửi cho tôi một bức điện báo tin kết thúc liên lạc để phá hủy mật mã và máy móc. Ông kết luận bằng những lời sau đây:
“Đây là một cuộc chiến đấu lâu dài và khó khăn, và chúng ta đã thất bại. Kinh nghiệm đó là duy nhất trong lịch sử đất nước chúng ta, không có nghĩa là sự kết thúc của Hoa Kỳ với tư cách là cường quốc thế giới. Tuy nhiên tầm nghiêm trọng của thất bại và hoàn cảnh xảy ra, hình như đòi hỏi chúng ta phải đánh giá lại những chính sách nửa vời thiển cận là đặc điểm chủ yếu sự tham gia của chúng ta ở đây, mặc dầu sự can thiệp về người và của rõ ràng là hào phóng. Ai không biết rút ra bài học của lịch sử sẽ bị sa vào sự lặp lại. Hy vọng rằng chúng ta sẽ không biết đến những Việt Nam khác và chúng ta đã rút được bài học. Sài Gòn từ biệt ngài”.
Ở Washington, ý thức rõ việc sắp cắt đứt hẳn liên lạc với Sài Gòn, tôi thấy cần nói lên sự tri ân của chúng tôi đối với những nỗ lực mà C.I.A. đã triển khai trong bao nhiêu năm. Tôi bèn gửi bức điện trả lời như sau:
“Vào lúc việc kết thúc liên lạc với Sài Gòn sắp xảy ra, tôi muốn bày tỏ sự hãnh diện và hài lòng của Cơ quan đối với công việc mà những đại diện của nó đã thực hiện, và chưa bao giờ trong lịch sử hai mươi năm nay của Cơ quan, điều đó lại xứng đáng như trong những tuần lễ vừa qua…!”.
Không bao lâu, quân đội Bắc Việt Nam tiến vào Sài Gòn. Một nhóm phóng viên của đài truyền hình N.B.C. quay được một trong những hình ảnh có ý nghĩa nhất của sự kiện. Đó là một chiếc xe tăng lớn của Bắc Việt, có nòng pháo dài, húc đổ cánh cửa sắt của dinh tổng thống. Không phải là hành động của những người du kích đi chân đất, mà là của một lực lượng quân sự rất qui ước. Đại tá Harry G. Summers kể lại rằng, trong những ngày cuối cùng sụp đổ của Nam Việt Nam, câu bình luận cay cú nhất là của một phi công Không lực hải quân làm nhiệm vụ bay giám sát cuộc di tản trên máy bay lên thẳng. Sau khi trở về hạ cánh trên chiến hạm Coral Sea, anh ta kêu lên rằng: “Họ đã tiến hành cuộc chiến tranh của chúng ta!” Lịch sử trớ trêu đã muốn rằng cuộc chiến tranh nhân dân phát động năm 1959 đã thất bại, trong khi cuộc chiến tranh của binh lính mà Hoa Kỳ cố đẩy tới trong những năm 60 bằng sự tham chiến ồ ạt của quân đội, cuối cùng đã bị kẻ thù giành chiến thắng.
Nguồn: Xưa & Nay, số 138, tháng 4 năm 2003.







