Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 15/05/2008 23:47 (GMT+7)

Những kết quả ban dầu của đề tài trồng thử nghiệm một số loài san hô tại vịnh Hạ Long trong năm 2005 - 2007

Từ khi được công nhận, ban quản lý vịnh đã có sự hợp tác, quan hệ rất chặt chẽ với các tổ chức khoa học trong và ngoài nước, các ban ngành Trung ương, địa phương, các tổ chức quốc tế, kêu gọi sự hỗ trợ đầu tư về cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, cảnh quan trong đó có lĩnh vực bảo vệ sử dụng khai thác hợp lý các nguồn lợi sinh vật biển.

Sinh vật biển là một mảng quan trọng trong cấu thành hệ thống thực vật đa dạng, phong phú ở đây. Theo thống kê của các nhà khoa học, Vịnh Hạ Long có 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ, 37 loài chim, 200 loài san hô, 36 loài thực vật ngập mặn, hơn 500 loài thực vật đáy, 10 loài bò sát, 7 loài cỏ biển 400 loài cá. Trong khoảng thời gian 15 năm trở lai đây Phân biển Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường Biển) đã có mối quan hệ hợp tác thường xuyên với Ban quản lý vịnh nhằm đề ra các phương pháp bảo vệ, điều tra tổng hợp, lập kế hoạch quản lý, đánh giá các điều kiện về tài nguyên, môi trường, địa chất, mức độ ô nhiễm… để giúp Ban quản lý có những biện pháp hữu hiệu đề xuất với địa phương và các tổ chức trong, ngoài nước để có những biện pháp bảo vệ tốt, duy trì sự phát triển bền vững của các hệ sinh vật biển, trong đó có các loài san hô biển. San hô ở vịnh Hạ Long có khoảng hơn 200 loài, có đặc điểm chung là có nhiều hình, thể dạng màu sắc khác nhau. Chúng sống thành từng tập đoàn ở độ sâu 2 - 7m, nơi có nhiệt độ dao động từ 22 0C - 27 0C và tập chung chủ yếu ở các vùng, vịnh, tùng áng, hẻm nhỏ cách bờ từ 150 - 200 m. Thức ăn của chúng là các loài sinh vật phù du có trong nước biển, kể cả các loài cá, giáp xác; sinh sản bằng cách đẻ trứng. Nhiều loài san hô có xúc tu dài từ 10 - 20 cm trông rất uyển chuyển, mềm mại với nhiều màu sắc rực rỡ (xanh, nhạt, đỏ, nâu, tím, vàng …) hoặc có những loài có xúc tu rất ngắn chỉ 0,2 - 0,5mm mà mắt thường không nhìn thấy. Rạn san hô là những nguồn lợi rất có giá trị. Chúng cung cấp thức ăn và là nơi trú ngụ cho các loài cá biển, tôm hùm, các loài thân mềm. Trong san hô có nhiều loại chất dùng để bào chế ra các loài dược liệu quý, xác san hô chết là loại vật liệu xây dựng những công trình ở ven biển rất tốt. Ngoài ra các rạn san hô còn có tác dụng bảo vệ bờ biển và là những điểm tham quan du lịch cho những du khách thích thám hiểm và khám phá đại dương. Vịnh Hạ Long đã và đang trở thành điểm đến cho rất nhiều du khách trong và ngoài nước, cho nên việc tác động ngành du lịch “công nghiệp không khói” đã có những ảnh hưởng không nhỏ, đe doạ nghiêm trọng đến tính bền vững của các hệ sinh vật biển trong đó có các loài san hô như đánh bắt hải sản mang tính huỷ diệt, khai thác quá tải, ô nhiễm môi trường, lắng đọng trầm tích …

Năm 2005, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển đã triển khai đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm trồng phục hồi san hô tại vùng biển vịnh Hạ Long” với sự hỗ trợ từ tổ chức Quỹ người dân vì các loài bị đe doạ và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Rufford Vương quốc Anh. Thời gian thực hiện là 12 tháng bắt đầu từ tháng 2 - 2005 và kết thúc tháng 2 - 2006.

Đề tài có các mục tiêu: Nghiên cứu thử nghiệm các phương pháp trồng phục hồi san hô; Các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sự phục hồi của san hô; Quan sát sự phục hồi của nguồn lợi cá sống ở rạn (loại cá có màu sắc đẹp như cá bò, cá bướm, cá mao tiên…) và các hoạt động nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương vùng ven vịnh Hạ Long. Kết quả của đề tài sẽ được ứng dụng vào công tác phục hồi, tái tạo nguồn lợi rạn san hô vùng vịnh Hạ Long và nhân rộng ra các vùng biển khác, tạo tiền đề cho các hướng nghiên cứu triển khai thuộc lĩnh vực sinh thái học cũng như phục hồi duy trì nguồn giống ở khu vực này.

Kết quả ban đầu về trồng thử nghiệm san hô sau 2 năm 2005 - 2007 đã thu được những số liệu đáng khích lệ sau:

Tỷ lệ sống của san hô tại các điểm trồng thử nghiệm:

Ngoại trừ một số địa điểm như Long Châu (Cát Bà) và Cọc Chèo (Cát Bà) do cơn bão số 2 năm 2005 tàn phá, tại khu vực Cống Đỏ (vịnh Hạ Long) đã được nhóm nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển tiến hành quan trắc vào tháng 11 - 2007 với kết quả sau:

Bảng 1
Bảng 1
So với kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp trong khu vực như Philippines thì tỷ lệ sống của san hô tại các điểm nuôi trồng tại vịnh Hạ Long hơi thấp hơn: Philipines vùng Bolinao 70% vàThái Lan vùng Phú Ket 66%, nguồn (Alin PM, 2005).

Sự tăng trưởng của các tập đoàn san hô tại các điểm trồng thử:

Có sự khác biệt đáng kể sau 2 năm trồng thử nghiệm. Đối với các tập đoàn san hô dạng cành Acropora thì tỷ lệ tăng trưởng về chiều dài các cành và polyp là 5 cm/ năm, riêng các tập đoàn dạng khối và bàn thì tỷ lệ tăng trưởng đã khoảng 15% sau 2 năm quan trắc.

Sự phục hồi của nguồn lợi cá rạn san hô trên rạn:

Do mới chỉ nằm trong phạm vi một đề tài mang tính trồng thử nghiệm trên diện tích nhỏ (khoảng 400 m 2) và trong khoảng thời gian ngắn cho nên việc đánh giá sự phục hồi của nguồn lợi cá rạn san hô trong khu vực nghiên cứu chưa được đầy đủ. Tuy nhiên theo kết quả quan trắc các điểm nghiên cứu trong 2 năm cho thấy (Bảng 2):

P < 0,05

Bảng 2
Bảng 2
Qua Bảng 2 cho thấy rằng cả 3 nhóm cá chỉ thị đều có sự khác biệt giữa các rạn nhân tạo và tự nhiên. Cụ thể là mật độ của nhóm cá con thường cao hơn ở các rạn nhân tạo, chúng kết thành đànquanh các giá thể nuôi trồng (mái nhà để trốn tránh kẻ thù trong khi các rạn tự nhiên bên cạnh đã bị phá huỷ do yếu tố tự nhiên và con người).

Đánh giá chung:

Sau 2 năm trồng thử nghiệm san hô tại khu vực vịnh Hạ Long có thể thấy rằng môi trường nước ở vịnh vẫn đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của san hô (Phạm Văn Lương 2006). Tuy vậy qua thời gian diễn thế của hệ sinh thái rạn này vẫn tiếp diễn và sự thay đổi trong quần xã san hô tạo rạn là khó tránh khỏi những rủi ro (Nguyễn Đăng Ngải 2005). Để chống chịu được với những thay đổi của các yếu tố tự nhiên (bão tố và thay đổi khí hậu) cùng các yếu tố có người (đục hoá san hô). Chính vì vậy việc tiến hành trồng phục hồi các khu vực rạn san hô tại vịnh Hạ Long là rất cần thiết trên cơ sở sử dụng các loài san hô bản địa của Vịnh (tránh các loài ngoại lai) để đẩy nhanh quá trình phục hồi tự nhiên tại các rạn san hô đã bị phá huỷ. Việc áp dụng các phương pháp trồng phục hồi theo hướng rẻ tiền và dễ áp dụng là một trong những yêu cầu đặt ra trong điều kiện Việt Nam , tuy nhiên vẫn đảm bảo tính hiệu quả cao của nó. Bên cạnh việc trồng phục hồi san hô bằng các biện pháp vật lý thì việc nghiên cứu các biện pháp trồng sinh thái thân thiện với môi trường như lấy giống san hô tự nhiên cần được đặt ra trong thời gian tới đây khi đòi hỏi phải áp dụng trên quy mô đại trà. Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Quân - Chủ nhiệm đề tài, việc trồng thử nghiệm nếu có kết quả tốt, nguồn giống sau này sẽ không lấy ở ngoài tự nhiên mà được nuôi cấy nhân tạo trong các phòng thí nghiệm rồi mới đem ra hiện trường. Như vậy sẽ có nhiều thời gian theo dõi, xử lý, rút kinh nghiệm và nguồn giống sẽ được áp dụng một cách chủ động hơn. Theo nhiều nhà khoa học, đề tài này đã mở ra một hướng nghiên cứu đột phá mới rất thiết thực. Việc phục hồi, giữ gìn các nguồn lợi sinh vật biển trong đó có san hô đang là một việc làm rất cấp thiết cho các khu bảo tồn biển nói riêng cũng như các khu vực khác nói chung. Việc làm mất đi các hệ sinh thái thì dễ còn việc khôi phục lại thì cực kỳ là khó khăn. Ban quản lý vịnh Hạ Long hy vọng các nhà khoa học Hải dương sớm thực hiện và triển khai các đề tài về hệ sinh thái rạn san hô có hiệu quả, từ đó chuyển giao kỹ thuật, phương pháp nuôi trồng cho địa phương, để trong thời gian không xa, san hô lại được sinh sống ở những nơi đã mất, góp phần không nhỏ cho sự đa dạng sinh học cao, làm tăng thêm những giá trị to lớn của Di sản thiên thiên thế giới trong bối cảnh vịnh Hạ Long đang được tổ chức New world open phát động nhân loại bầu chọn là một trong những ứng cử viên của tốp bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới thế kỷ XXI.

Nguồn: Biển Việt Nam, số 03/2008

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.