Những hội thi tài của người Việt xưa
Đó là những sinh hoạt văn hoá dân gian, phản ánh tình hình xã hội nông nghiệp khi các làng chạ đã định hình với các công xã láng giềng đông vui, khi hạt lúa do đổ mồ hôi ra mà có và đã được chế biến ngày một tinh xảo, và cạnh đó là chăn nuôi cũng phát triển. Thông qua hội hè đình đám của công xa với các hình thức thi tài, nhân dân ta muốn biểu dương và cổ vũ đời sống nông nghiệp, tổng kết và trao đổi kinh nghiệm làm ăn, góp phần đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống và phát triển văn hoá.
Ở bài viết này, xin được giới thiệu một vài trò thi tài, đua khéo của người Việt, đó là trò “nấu cơm thi”, “Thi làm bánh” và “Nấu cỗ” trong dịp Tết.
Thi nấu cơm là một trò diễn với nhiều hình thức phong phú. Hầu hết các tục lệ trong trò nấu cơm thi đều được gắn với truyền thuyết Hùng Vương và Tản Viên. Ở huyện Phong Châu (Phú Thọ ngày nay), người ta cho rằng tục nấu cơm thi là để kỷ niệm việc Vua Hùng đã dạy bảo các công chúa nấu cơm thi. Các công chúa đã trổ hết tài khéo léo của mình cho vua cha đẹp lòng và khen ngợi.
Ở làng Đoan Hạ bên sông Đà (nay là một thôn của xã Đồng Luận, huyện Tam Thanh, Phú Thọ), tổ chức nấu cơm thi vào ngày tiệc tế Tản Viên (mồng 4 Tết Âm lịch). Theo các cụ già làng, ngày đó Tản Viên đi lễ Tết bố vợ về, đã dừng chân ở Đoan Hạ. Dân địa phương đã nấu cơm, mổ lợn mời “Sơn Thánh”. Ở đây có tục lệ là hai người thi nấu cơm. “Ông chánh” và “Ông phó” đều thắt cân đai. Ông chánh mặc áo thâm, ông phó mặc áo trắng, mỗi người một quyển sách đi quanh đình để kiểm soát nới đóng quân nghỉ lại. Hai vai trò chánh, phó này là người của 4 giáp thuộc Đồng Luận, lần lượt cử nhau. Sau trò diễn nghi thức trên, mới tới kéo lửa nấu cơm thi...
Ở xã Sơn Đông (huyện Lập Thạch) thì lại tổ chức nấu cơm thi vào ngày mồng 8 tết. Xã này có 4 giáp, mỗi giáp mang theo 4 cân thóc, một chiếc nồi, một khúc gỗ xoan, một ít phôi bào khô và vài chiếc lạt giang, một cối giã, ba chiếc cọc tre làm chân kiềng và nong nia, dần, sàng. Mỗi giáp cử 8 người dự thi và có sự phân công rất rõ ràng: hai người giã gạo, hai người sàng sẩy và chọn gạo nấu, hai người kéo lửa và bắc bếp nhóm lửa, hai người ra sông lấy nước, trên đường đi và về đều bị người chạy theo mang trống chiêng khua vang , cố ý để làm cho mất bình tĩnh, làm đổ nước và vỡ nồi. Nếu giáp nào để vỡ nồi, nấu cơm vụng thì phải nộp phạt một chai rượu và một đĩa trầu cau...
Nhiều địa phương ở đây cũng có tục nấu cơm thi như : Làng Tích Sơn (nay thuộc thị xã Vĩnh Yên); xã Yên Thư (huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc); xã Vực Trường (Tam Thanh); xã Kinh Kệ (Phong Châu). Một số xã khác thuộc huyện Vĩnh Lạc (Vĩnh Phúc) cũng có tục nấu cơm thi như: Yên Thư, Thượng Trưng, Tứ Trưng...
Việc thi nấu cơm đòi hỏi phải có tinh thần tập thể, tinh thần đồng đội, kỹ thuật cao và cả trí thông minh nữa. Có nơi vừa phải xay giã vừa nấu cơm. Hầu hết là phải tự tạo lấy lửa bằng một số hình thức cổ truyền. Tiêu chuẩn được giải hoặc được coi là đạt yêu cầu ở mỗi địa phương cũng có khác nhau, nhưng về cơ bản phải đạt được mức : Cơm dẻo, nấu vừa chín tới, không khê, không nhão. Tóm lại, trong những điều kiện khó khăn có thể nói là “oái oăm” nữa, như: vừa đi vừa nấu, gánh nồi mà nấu, ăn mía lấy bã làm củi, hay cọ xát các thanh giang nứa vào nhau mà lấy lửa... Người dự thi vẫn thổi được nồi cơm ngon theo tín ngưỡng dân gian, người ta tin rằng thắng lợi trong cuộc thi nấu cơm ngày Tết sẽ đem lại thắng lợi mùa màng cho cả tập thể phe giáp chứ không cho riêng một ai.
Cùng với thi nấu cơm là thi làm bánh và nấu cỗ trong những ngày Tết. Tục lệ thi này có khác thi nấu cơm ở nhiều điểm. Thi nấu cơm là thi ở đình, còn thi làm bánh thì làm ở giáp, ở nhà đăng cai, rồi đem ra đình thi. Nhiều địa phương trên vùng đất Tổ Hùng Vương có tục lệ thi làm bánh, nhưng đa số là thi bánh giầy, một số nơi thi làm bánh nẳng và bánh ót.
Vào ngày mồng 3 Tết ở thôn Cá Dốc, xã An Đạo (Phong Châu) có cỗ bánh giầy thi, mỗi giáp làm một cỗ. Mỗi chiếc bánh được xếp vào một chiếc đĩa lớn, lòng đĩa lót giấy bản. Xếp bánh xong người ta kéo giấy buộc túm lại, xoắn một tờ giấy nhỏ làm dây buộc. Tất cả được xếp vào mâm và nóc cỗ bánh có trang trí hoa giấy. Người ta xếp các mâm bánh thành hàng ở một thửa ruộng cao ráo. Hai bên ruộng cắm cờ đuôi nheo, và dân làng tổ chức tế thần ngay cạnh đó. Thi làm bánh được thực hiện trong những điều kiện thông thường, không có những qui định khó khăn như buộc niêu cơm vào cần tre vừa đi vừa nấu, hoặc đánh giang nứa lấy lửa...
Tiệc bánh giầy ở Yên Thư (thuộc Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc ngày nay) lại tổ chức vào dịp hội làng từ ngày mồng 3 đến ngày mồng 7 Tết. Cả 3 giáp ở đây đều nô nức tham gia thi bánh giầy. Người ta chọn loại bếp tốt nhất, cứ nhà có bao nhiêu con trai thì phải góp bấy nhiêu đấu gạo. Nhà không có con trai cũng phải góp một suất. Sáng mồng 5 Tết, gạo được trộn đều để giao cho người đăng cai. Người đăng cai lại phải chay tịnh, mỗi ngày tắm hai lần bằng nước gừng. Nước làm bánh lại phải xin ở làng Đinh Xá (làng bên cạnh kết nghĩa với làng Yên Thư). Theo tục lệ cổ truyền, Đinh Xá phải giữ nước giếng cho trong, cho sạch, không để ai đến gánh từ chiều ngày mồng 4 Tết. Giếng được che bằng một chiếc lọng to. Sáng mồng 5, đoàn đại biểu Yên Thư gồm ba giáp, mỗi giáp mang theo 8 đôi chĩnh lên đường sang Đinh Xá lấy nước. Từ sáng sớm, khi gà gáy, dân làng đã thắp hương làm lễ đưa đoàn người khiêng chĩnh lên đường. Sang tới xã bạn, Yên Thư thả mấy quan tiền xuống giếng theo lệ rồi kín nước. Từ động tác múc nước tới quẩy nước về làng đều phải làm thật nhanh, thật khéo. Đoàn người đưa chĩnh nước trở về, lại được bà con ba giáp ra đón tại đầu làng với cờ xí lộng lẫy, chiêng trống tưng bừng. Sáng mồng 7 Tết, cả giáp giã bánh trong tiếng nhạc. Trước khi giã, người ta chôn cối đá sâu xuống đất để cối không bị xê dịch. Chày làm bằng tre non cạo hết tinh, dúng nước xoa trứng. Người bắt bánh phải xoa lòng đỏ trứng vào tay. Mỗi chiếc bánh nặn nhỏ bằng phẩm oản được đặt lên một lá mít cắt tròn. Ba bốn trăm chiếc bánh đặt trên bàn thờ trông rất đều nhau và đẹp mắt. Bánh đạt tiêu chuẩn là bánh tròn, bóng, không nhăn gợn. Mỗi giáp chấm lấy một quả nhất (người ta nói “quả bánh”, “đồng bánh” để chỉ một chiếc bánh). Bộ phận chấm thi gồm 4 người trong đó có chủ tế. Quả bánh nhất được đặt vào chính giữa mâm bánh, mọi người hân hoan đưa kiệu khiêng mâm bánh ra đình. Sau khi đưa bánh vào “trình ngài” ở hậu cung, người ta mới chấm lấy mâm bánh đạt giải nhất...
Tiệc bánh giầy ở xã Nha Môn (nay thuộc xã Tiên Du, huyện Phong Châu, Phú Thọ) vào ngày mồng 6 Tết, lại có lệ thật đặc biệt: Chỉ hương lý mới được giã bánh, bắt bánh. Mỗi hương lý được sửa bốn chiếc, mỗi chiếc đường kính 30 phân. tế xong, bánh được đem về xóm chia cho hết thảy dân làng, kể từ các em bé còn ẵm ngửa. Điều này cũng thể hiện tinh thần dân chủ cộng đồng từ thời Hùng Vương dựng nước còn tồn tại lâu dài ở các thôn làng xưa...
Cùng với việc thi bánh, một số địa phương ở huyện Phong Châu (Phú Thọ) còn tổ chức thi nấu cỗ như: thôn Do Nghĩa, xã Sơn Vi, thôn Đông Thái, xã Cao Mại, xã Thạch Sơn... Ở đây mối mâm cỗ bày tám tầng bát đĩa, phải bốn người mới khiêng nổi ra đình. Từng món chế biến, nấu nướng đều đạt tới trình độ nghệ thuật rất cao...
Nguồn: Tạp chí Văn hoá - Văn nghệ công an - số 01/2006








