Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 28/08/2008 23:41 (GMT+7)

Những dòng sông kêu cứu

Sông Thao xuất phát từ dãy Nguỵ Sơn, cao độ 1.776m, huyện Nhị Độ, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, dài khoảng 1.160km, trên lãnh thổ Việt Nam dài 556km từ Hà Khẩu, tỉnh Lào Cai. Sông Đà, còn gọi là sông Đen, bắt nguồn từ huyện Cảng Đông, tỉnh Vân Nam, dài khoảng 1.010km, trong lãnh thổ Việt Nam dài 570km, 47,6% lưu vực thuộc Trung Quốc. Sông Lô, xuất phát từ tỉnh Vân Nam . Sông Lô, sông Thao và sông Đà hợp lưu ở Việt Trì, chảy ra biển. Thượng nguồn sông Thao và sông Lô, Trung Quốc xây dựng khá nhiều đập thuỷ điện vừa và nhỏ phục vụ phát triển kinh tế, phát điện, khai thác khoáng sản và nạn tàn phá rằng đầu nguồn. Thượng nguồn sông Đà: Trung Quốc cũng đang xây dựng 03 đập nhà máy thuỷ điện lớn, đập có cao trình 140m, 114m và 95m, gây nhiều bất lợi lớn cho hạ lưu. Do giảm lượng nước từ thượng lưu nên thay đổi dòng chảy, sụt lở bờ sông, tốc độ dòng chảy giảm, lượng phù sa trầm lắng ngày một cao, cạn kiệt, nhất là mùa khô, mực nước sông Hồng tại Hà Nội chỉ còn 1.36m (ngày 20 - 2 - 2006), nhiều đoạn sông phơi đáy, không thể lấn át được nước biển dâng cao, lấn sâu vào đất liền. Mặt khác, “trái đất nóng lên là thách thức của thời đại”. Các nhà khoa học đã khám phá và khẳng định rằng: quá trình ấm lên toàn cầu làm tăng nhiệt độ bề mặt nước biển, trong đó có Thái Bình Dương, chính việc tăng lượng mưa trong cơn bão, sóng biển cao, xô dạt vào bờ, tạo nên sự bồi lấp thành “luống rộng, cao dần”, chắn ngang các cửa sông Hồng: Ba lạt, Trà Lý, Lạch Giang.

Sông Mêkông, còn gọi là “sông Đá” vì có nhiều đá, bãi nổi, bắt nguồn từ Châu tự trị dân tộc Ngọc Thụ Tạng, tỉnh Thanh Hải, chảy qua phía Đông Tây Tạng, phía Tây tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt nam đổ ra biển Đông. Sông Mêkông dài khoảng 4.300 km, trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 250km và chỉ có 5% lưu vực, 95% lưu vực ngoài biên giới. Sông Mêkông là sông lớn, đứng số 6 thế giới, thứ 3 châu Á và số 1 Đông Nam Á, ít được phát triển nhất thế giới. Năm 1992, với sự giúp đỡ của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), 06            quốc gia: Trung quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam đã ký hiệp định khai thác và sử dụng nguồn nước sông Mêkông, hy vọng vực dậy khu vực kinh tế rộng lớn, trên 250 triệu dân chậm phát triển. Uỷ hội sông Mêkông (MRC) ra đời 05/4/1995, gồm 4 nước: Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam , không chỉ quy định hợp tác trong lĩnh vực tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan. Đây là một Hiệp định được quốc tế đánh giá cao, có nhiều đóng góp tích cực vào việc ổn định vùng. Viễn cảnh buôn bán và du lịch trên sông Mêkông đã thúc đẩy Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan ký hiệp định tháng 4 - 2001, nhằm khai thác đường sông Mêkông trên mỗi nước. Để khai thông hệ thống đường sông Mêkông theo kế hoạch phải phá bỏ 11 gềnh đá từ Myanmar tới bản Huội Xài (Lào) đối diện với Thái Lan theo 3 giai đoạn: Giai đoạn I: Cho tàu thuyền có trọng tải 150 DWT đi lại an toàn trong 95% thời gian năm và cả mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, giai đoạn II và III: cho tàu thuyền có trọng tải 500 DWT đi lại được. Giai đoạn I của dự án mới thực hiện được 10% phải dừng, vì bị phản kháng kịch liệt của hoạt động môi trường và có sự đồng minh của quân đội Thái Lan. Ngày 4 - 11 - 2002, bên lề Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Campuchia, 6 nước Tiểu vùng sông Mêkông (GMS): Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đã ký Hiệp định khai thác và sử dụng nguồn nước sông Mêkông bằng việc triển khai 11 dự án lớn trong lĩnh vực giao thông, viễn thông và du lịch. Trong đó, có dự án xây dựng xa lộ từ biển Đông, qua đồng bằng sông Cửu Long, tới cảng Phnôm Pênh của Campuchia với hàng trăm kilomét đường sông. Ngược lên thượng nguồn, qua khỏi thác Khôn: từ Savanakhet tới Bản Xai giáp Myanmar sau khi nâng cấp có thể cho tàu thuyền có trọng tải 2.000DWT qua lại.

Tuy nhiên, điều này đang thay đổi nhanh chóng, sự khai thác ồ ạt tiềm năng thuỷ điện khổng lồ, khai thác khoáng sản thiếu thân thiện với môi trường và sự tàn phá rừng trong lưu vực sông Mêkông đã đe doạ lớn vùng hạ lưu: thay đổi chu kỳ lũ lụt, ảnh hưởng đa dạng sinh học cực kỳ phong phú của hệ thống sông này và nước biển càng lấn sâu vào đất liền. Điều quan trọng hơn, các tổ chức về môi trường trong nước và thế giới đều bất lực trước các dự án khai thác thuỷ điện, khai thác khoáng sản và tàn phá rừng đầu nguồn. Trung Quốc đang xây dựng một hệ thống 8 đập thuỷ điện trên sông Mêkông, còn goi là sông Lan Thương, có khả năng chứa hơn 23 tỷ m 3nước, xấp xỉ 30% lưu lượng nước hàng năm của tỉnh Vân Nam đóng góp cho sông Mêkông và gần 5% tổng số của 475 tỷ m 3nước hàng năm sông Mêkông đổ ra biển Đông. Gần đây, Trung Quốc đã hoàn thành đập thứ ba; Nhà máy thuỷ điện Xiaowan có công suất 4.200 MW, đập cao 202 m, hồ lớn tích 15 tỷ m 3nước, phải tích nước nhiều năm mới đầy hồ, sử dụng 50% nguồn nước thượng lưu. Phía Trung Quốc cho rằng: hệ thống đập thuỷ điện mà Trung Quốc xây dựng trên sông Mêkông sẽ có lợi cho các nước hạ lưu, bằng cách giảm nhẹ chu kỳ lũ lụt hàng năm, cũng như tình trạng thiếu nước về mùa khô.

Thái Lan đang nghiên cứu khả thi xây dựng nhà máy thuỷ điện khổng lồ trên phụ lưu sông Mêkông, chảy qua tỉnh Ubon Ratchathani, đông bắc Thái Lan với công suất phát điện 1.800 MW, vốn đầu tư khoảng 90 tỷ bạt, tương đương khoảng 2,8 tỷ USD. Con đập này được xây dựng sẽ làm giảm nước chảy xuống hạ lưu, tác hại nghiêm trọng cho nông nghiệp, ngư nghiệp và giao thông, làm thay đổi chu kỳ và mức độ lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng cao, đe doạ môi trường sống của hàng chục triệu người. Thái Lan đã có bài học 17 năm về trước, dự án xây dựng nhà máy thuỷ điện Pak Moon, bị nhân dân địa phương sống hai bên bờ sông Mêkông không đồng thuận, đấu tranh quyết liệt phải dừng dự án.

Lào, hướng tới mục tiêu: xuất khẩu điện lớn của châu Á. Hiện nay Lào có tổng công suất khoảng 600 MW, dự kiến tăng lên 17 - 18 nghìn MW sau khi hoàn tất chương trình xây dựng 50 - 60 nhà máy thuỷ điện; Đến năm 2020 hoàn thành 29 dự án. Lào đã ký với Việt Nam xây dựng nhà máy thuỷ điện Luông Prabăng, có công suất 1.400 MW, vốn đầu tư 1,7 tỷ USD. Lào ký tới Trung Quốc hai (02) dự án: Xây dựng nhà máy thuỷ điện trên sông Nậm U, có công suất 600 MW và khảo sát xây dựng nhà máy thuỷ điện ở Xay - Na - Bu - Ly, công suất 1.400 MW. Mọi hiện tượng được xảy ra trên sông Hồng được lặp lại với hạ lưu sông Mêkông, bồi lấp thành “gò, đống” chắn ngang 9 cửa sông: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lạt, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hậu, cửa Định An, cửa Trần Đề và cửa Bắt Sắc.

Nước ngọt, bao gồm số lượng và chất lượng nguồn nước đang là một vấn đề cấp bách nhất của cả cộng đồng thế giới cũng như mỗi quốc gia. Do những đặc điểm về địa lý tự nhiên, về kinh tế xã hội mà Việt Nam đang phải đương đầu với nhiều thách thức gay gắt về nguồn nước các dòng sông. Đó là tình trạng: thay đổi chu kỳ lũ lụt; thay đổi dòng chảy gây sụt lở bờ sông; cạn kiệt; ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, kênh rạch. Nước sạch thì thiếu, nước bẩn thì thừa; nước biển lấn sâu vào đất liền, cộng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu nước biển dâng cao, bồi lấp cửa sông. Chính vì vậy, giải quyết nạn thiếu nước và khắc phục ô nhiễm nguồn nước là ưu tiên hàng đầu. Việt Nam ở hạ lưu nhiều con sông lớn xuyên quốc gia nên đã chủ động và tích cực hoạt động trong nhiều lĩnh vực: sử dụng và chia sẻ tài nguyên nước, quy hoạch phát triển toàn lưu vực, thuỷ sản, giao thông thuỷ, thuỷ điện, nông lâm ngư nghiệp và mạng lưới quản lý lũ, môi trường. Đặc biệt, vấn đề phân chia công bằng tài nguyên nước, giảm thiểu những tác động bất lợi về nguồn nước và môi trường do quốc gia này gây ra cho các quốc gia khác trên cơ sở luật pháp quốc tế, thông qua thương lượng hoà bình. Mỗi người đều nhận thức được: Đàm phán, hợp tác để quản lý và phân chia nguồn nước trong các dòng sông xuyên biên giới đã khó; cùng nhau khai thác nó còn khó hơn nhiều đối với các nước hạ lưu. Được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, các nhà đầu tư nên sự hợp tác đó có tiến bộ, không đáng kể, do “thế” và “lực” quá chênh lệch giữa các nước ở thượng lưu và các nước ở hạ lưu. Trung Quốc và Myanmar từ chối không gia nhập MRC. MRC vẫn chưa thống nhất được vấn đề sử dụng nguồn nước sông Mêkông một cách bền vững, đặc biệt dòng chảy về mùa khô. Họ đua nhay xây dựng những nhà máy thuỷ điện lớn, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị dọc hai bờ sông, tàn phá rừng trên các dòng chảy, xả nước bẩn chưa qua xử lý xuống sông, trong lãnh thổ của mình.

Để điều chỉnh sự không cân bằng về quyền lực thực tại trong quá trình hợp tác và quản lý tài nguyên nước một cách bền vững, cần có sự minh bạch về tác động đến tài nguyên nước xuyên biên giới và toàn bộ khu vực. Năm 2006, Ngân hàng thế giới (WB) và ADB đã hợp tác với MRC soạn thảo ra một chương trình đầy triển vọng bổ trợ tài nguyên nước sông Mêkông, bằng cách tập trung tích nước vào các dự án thủy điện, thủy lợi lớn. Chương trình này bị nhóm bảo vệ môi trường phản đối và MRC đã chuyển đổi sang phát triển bền vững về môi trường, quan tâm đúng mức sự cân bằng các yếu tố với tiêu chuẩn thấp hơn. Các chuyên gia của MRC đã đề xuất: tạo ra mô hình mô phỏng sự tương tác về toàn bộ lưu vực sông thông qua việc sử dụng hình ảnh vệ tinh, cũng như phần mềm mô phỏng dòng sông bằng cách sử dụng hình ảnh ra đa, tia hồng ngoại và chụp ảnh. Các nghiên cứu trên cho tới nay mới dừng lại ở các phụ lưu riêng sẽ của hạ lưu sông Mêkông. Tuy nhiên, tài nguyên nước ngày càng trở lên nhạy cảm về mọi mặt với ý đồ chính trị - kinh tế của mỗi quốc gia trong quan hệ lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế một cách cụ thể trên dòng sông xuyên biên giới. Lợi ích dân tộc và chủ quyền quốc gia bao giờ cũng được coi trọng nên quan hệ đó thường xảy ra trạng thái “bất đối xứng”, khó đồng thuận, “thế” và “lực” thuộc về các quốc gia ở thượng nguồn; với những lời nói “ngọt ngào” cho vừa lòng nhau trên bàn đàm phán. Nhưng, không thể che khuất được mọi sự kiện xảy ra trên thực địa. Vấn đề an ninh nước ngọt còn bức xúc hơn an ninh lương thực. Mỗi quốc gia ở hạ lưu nên chủ động tạo lập nền tảng cho nguồn nước ngọt phát triển bền vững không bao giờ thừa. Việt Nam chúng ta không phải là trường hợp ngoại lệ: “Phải tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tuyên Quang: Tổng kết dự án bảo tồn, phát huy giá trị di sản chè Shan tuyết
Ngày 04/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quỹ Môi trường Toàn cầu (UNDP/GEF SGP) tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Giải pháp thúc đẩy bảo tồn, phát huy giá trị quần thể cây di sản chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế tỉnh Tuyên Quang”.
Kỷ niệm 20 năm thành lập Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ
Sáng 6/9 tại Hà Nội, Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ (CTCS) thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập. Tại sự kiện, công trình “Almanach Những nền văn minh thế giới” do Trung tâm thực hiện đã chính thức nhận Bằng xác lập Kỷ lục Việt Nam cho công trình “Almanach những nền văn minh thế giới”.
Khởi động Dự án “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế - giai đoạn 2”
Ngày 25/8/2026, tại UBND phường Phong Điền, thành phố Huế, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (Trung tâm SRD) phối hợp với UBND phường Phong Điền tổ chức buổi họp khởi động Dự án VM083 “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế – giai đoạn 2”.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị
Sáng 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.