Những đổi thay quanh hồ Gươm cuối thế kỷ XIX
Họ không quan tâm đến hay không biết? Chính những người Pháp sau này cũng phải thắc mắc đặt ra câu hỏi đó, vì không lẽ một cái hồ đẹp nằm giữa trung tâm thành phố lại không được du khách biết đến. Mãi đến năm 1894, một tác giả người Pháp là Juless Boissiere mới giải đáp như sau: “Đồng bào của chúng ta cũng chẳng có lỗi vì không biết đến hồ Gươm, hoặc thậm chí có biết đấy nhưng lại coi thường nó, không thấy vẻ đẹp của nó. Thời đó các túp lều của dân bản xứ chen chúc nhau quanh bờ hồ, và muốn tới được bên hồ thì phải rời bỏ những con đường qua lại được (mặc dù rất bẩn) của thành phố để len lỏi vào những ngõ hẹp, loanh quanh chán chê giữa những mái nhà tranh gớm khiếp của những người nghèo khổ, nhảy tưng tưng qua những vũng nước hôi hám, những đống rác; và nào đã hết, sau một tiếng đồng hồ kiên nhẫn lần mò trong cái đám mê hòn trận ấy, nhà thám hiểm táo bạo của chúng ta thấy mình không phải là đứng bên bờ hồ mà là đứng ở… điểm xuất phát. Thậm chí nếu du khách có thoáng thấy một góc hồ ở cách đó vài bước thì ông ta cũng chẳng còn bụng dạ nào mà bước tới nữa, chán ngán khi vấp phải một bãi lầy bẩn thỉu ở một đầu ngõ hoặc ở phía sau những túp lều tối om”.
Nhưng thực ra từ năm 1883, các ông Paul Bonnetain, phóng viên báo Le Figaro,Paul Bourde, phóng viên Thời Báo(Temps), G. Fillion, phóng viên Hãng thông tấn Havas,đã cùng sống chung trong một ngôi chùa bên bờ hồ, và đã từng kể lại cái thú được dạo chơi quanh hồ và bơi thuyền trên mặt nước. Ông Paul Bourde viết: “Cửa buồng chúng tôi nhìn ra cái hồ nằm duyên dáng giữa lòng Hà Nội. Ngồi ở chỗ chúng tôi mà nhìn cảnh bình minh mọc thì thật là tuyệt vời; bình minh long lanh một thứ ánh sáng huyền ảo mà các truyện thần tiên gọi là màu của trời; xà cừ đẹp nhất Singapore cũng như những viên ngọc đẹp nhất cũng không thể nào sánh nổi; trong bóng sương tan, có cảm tưởng như ánh sáng từ dưới nước chiếu lên chứ không phải phản chiếu ánh sáng từ trên trời xuống. Một giấc ngủ gà, mà chỉ có tiếng hót của các con chim dậy sớm phá vỡ, kéo dài thêm cái thanh bình của đêm sang đến sáng. Một hòn đảo nhỏ nom như một lẵng cây xanh với cành lá rủ xuống hồ soi bóng nước, để lộ cho ta thấy trong các lùm cây những làn mái cong, cái cột trắng và cái nhà thủy tạ mái chống cột gỗ của một trong những ngôi chùa đẹp nhất Hà Nội, ngôi chùa nối với bờ bằng một chiếc cầu tre mảnh mai thích hợp với bước đi nhẹ nhàng của con dê hơn là với bước chân nặng trịch của người Âu chúng ta. Xa xa, một hòn đảo nữa nhỏ hơn với một cái tháp ba tầng, tác phẩm của một người Hoa buôn bán bánh ngọt nào đó, với những khoang cửa theo phong cách gô tích khá bất ngờ ở một chỗ như nơi đây.
Đi dọc ven hồ, ta đưa mắt nhìn những thảm cỏ xanh ngắt, những bụi tre với cành lá mềm mại in lên nền trời những đường nét tinh tế như đường nét của những dải đăng ten, cây cối đủ các loại, và dừa ngơ ngác thấy mình ở cách xa biển đến thế, buồn bã soi bóng xuống hồ, những cây xoài, cây vải vươn những cái đầu to tướng xẫm màu trên đám xanh tươi của mọi cây khác”.
Ngôi chùa trên hòn đảo giữa hồ mà nhà báo mô tả chính là đền Ngọc Sơn, còn cái tháp của “người Hoa nào đó” chính là Tháp Rùa nổi tiếng sau này, đã một thời hầu như trở thành biểu tượng của Hà Nội. Ngôi chùa bên hồ mà các nhà báo này đã ở trọ trong vài tháng chính là chùa Liên Trì, còn gọi là chùa Báo Ân, nhưng dân gian vẫn quen gọi là chùa Quan Thượng, vì do Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Đăng Giai, hàm thượng thư, đứng ra quyên tiền xây dựng vào khoảng 1841 đến 1843. Nhưng trong sách của người Pháp thì gọi là chùa Thụ Hình (pagode des Supplices) vì trong chùa có hai vách ván chạm nổi cao 3 thước, dài 5 thước, tả cảnh Diêm Vương dùng cực hình đày đọa những kẻ phạm tội ác trên dương thế. Người Pháp đã biến ngôi chùa này thành doanh trại của cơ quan hậu cần quân đội viễn chinh, và đến năm 1889 thì cho phá bỏ. Chính sau này họ cũng phải than thở rằng “kiến trúc ngôi chùa không thiếu phong cách và việc dỡ bỏ nó là một quyết định không thể hiểu nổi và vô cùng đáng tiếc”. Nhiều pho tượng gỗ trong chùa đã được các nhà sưu tập Pháp đem về nước, và không hiểu hiện nay chúng có còn được nằm ở bảo tàng nào không, nhưng theo lời Paul Bourde thì “ở đó ta có thể thấy những pho tượng gỗ đặc sắc mà nếu đem tượng của ngôi chùa nổi tiếng Ngũ Bách Thần ở Quảng Đông đặt bên cạnh tượng chùa này thì đó là chỉ những phác thảo thô kệch”. Vị trí ngôi chùa nằm trên khu vực chạy từ vườn hoa Con Cóc trước phủ Thống sứ ra đến tận bờ hồ, mà đến nay vẫn còn lại một ngọn tháp nhỏ gọi là tháp Hoa Phong, nằm trên vỉa hè cạnh con đường trước kia mang tên phố Hậu cần ( rue Intendance).
![]() |
Từ Hàng Khay đến góc hồ thì gặp phố Hàng Thêu, nơi có nhiều cửa hàng bán đồ thêu. Bác sĩ Hocquard đã theo quân viễn chinh đến Hà Nội từ năm 1884, từng mô tả con phố này như sau: “Một trong những ngành buôn bán chính của Hà Nội là thêu trên lụa. Những người thợ thêu chiếm một phường lớn, trên con đường dẫn từ khu Nhượng địa đến thành nội. Họ đều có cửa hàng nhìn ra mặt phố và bày các sản phẩm của mình ra: thảm, màn, dép thêu, áo lính và lễ phục, nói tóm tất cả những cái gì hấp dẫn khách qua đường.
Hàng thêu làm trên vải dạ hay vải lụa Trung Quốc có màu sắc khác nhau; người ta dùng lụa màu cực kỳ sặc sỡ đôi khi pha vào những đường chỉ kim tuyến. Lụa thêu được dệt ở Trung Quốc hay ở Bắc kỳ; lụa Bắc kỳ chất lượng kém hơn, thường dùng cho đồ thêu rẻ tiền”.
Về sau người Pháp đổi thành phố Jules Ferry, tên của một bộ trưởng Pháp chủ trương bành trướng thuộc địa (1880 – 1885). Nay là phố Lê Thái Tổ nổi tiếng với phố Hàng Trống, là những phố xưa kia có nhiều hàng thêu chạy ra tận chợ Hàng Da ngày nay, hợp thành phường thợ thêu. Đình thờ tổ nghề thêu được xây ở ngõ Yên Thái (nhà số 2A nối Hàng Mành ra chợ Hàng Da). Trên cổng đình còn ghi ba chữ “Tú đình thị” (chợ đình thợ thêu), chứng tỏ đây vốn là chợ hàng thêu, xưa kia đông vui hơn cả chợ Tết. Ở phố Hàng Lọng cũng có một đền thờ tổ nhưng ngày nay không còn.
Có lẽ con đường đầu tiên do người Pháp vạch ra ở Hà Nội là đường dẫn từ khu Nhượng địa ra phố Tràng Tiền, chạy ven hồ Gươm qua phố Hàng Khay, nối lên phố Tràng Thi, phố Nhà Chung và một số phố khác của người Việt để cuối cùng qua cửa Đông vào trong thành. Đấy là con đường đầu tiên được rải đá, có thể chạy xe ngựa. Từ đấy, những quán cà phê, những hàng ăn của người Pháp dần dần mọc lên ở khu vực quanh hồ. Chỉ riêng trên phố Tràng Tiền năm 1885 đã có 6 tiệm cà phê. Còn khách sạn đầu tiên của Hà Nội cũng nằm ven hồ trên phố Hàng Thêu, đó là khách sạn Grand Hotel ở các nơi sau này là trụ sở báo L’ Avenir du Tonkin( Tương laicủa Bắc Kỳ) của người Pháp, về sau nhượng lại cho nhà in Teresa của Nhà Chung (nay là trụ sở báo Hà Nội mới).
Còn con đường vòng quanh Hồ Gươm thì chiều rộng của nó chỉ vừa vặn từ cái tháp nhỏ của chùa Liên Trì tới mép hồ, nghĩa là còn hẹp hơn nhiều so với cái hè bên hồ ngày nay. Năm 1884 thành phố lên kế hoạch cải tạo và được khởi đầu vào tháng tư 1885. Vào năm 1888, Hội Đồng thành phố biểu quyết ngân sách 220.000 phrang để hoàn thành đường phố ấy, nhưng một số gia chủ đòi hỏi tiền đền bù giải phóng mặt bằng quá nhiều, phải thương lượng đi thương lượng lại trong khi vẫn cứ tiến hành công việc ở những chỗ nào có thể làm được.
Cảnh quan quanh Hồ Gươm đã đổi thay, nhìn lại những tấm ảnh cũ ta có thể hình dung được một phần dáng vẻ của nó vào những năm cuối thế kỷ XIX, khi thành phố bắt đầu chuyển mình từ một đô thị Kẻ Chợ để trở nên một đô thị kiểu mới thời thuộc địa.









