Những điều nên biết về virus
Cúm gia cầm (Cúm A - H5N1) đang tái phát tại nhiều nước, kể cả nước ta. Đã có những trường hợp tử vong ở người. Ngoài ra, người ta nhận thấy bệnh này đang có khả năng gây thành dịch trên những động vật có vú khác. Điều đáng lo ngại là trên quẩn thể người có rất ít miễn dịch tự nhiên với H5N1, và virus cúm A đã kháng các thuốc chống virus thông dụng nhất là Amantadin và Rimantadin. Các trường hợp viêm não do virus đã và đang được phát hiện nhiều ở Việt Nam . Tỉ lệ mắc và tử vong do sốt xuất huyết ngày càng tăng. Viêm gan do virus xuất hiện nhiều trong cộng đồng, đặc biệt có những ca nhiễm virus viêm gan C ở trẻ nhỏ. Đại dịch AIDS do virus HIV gây ra có qui mô trên toàn thế giới vẫn đang là đại dịch của thế kỷ 21.
Những bệnh kể trên đều do tác nhân gây bệnh là virus và đều có khả năng lây thành dịch rất cao nếu chúng ta không có những biện pháp tích cực để phòng chống. Vậy virus là gì và vì sao cúng có khả năng gây ra nhiều bệnh vậy? cách phòng chống như thế nào cho hiệu quả? tương lai con người chúng ta ra sao khi virus ngày càng kháng thuốc và khả năng bào chế một loại vắc xin vẫn còn ở thì tương lai?
Virus là gì?
Virus hay siêu vi khuẩn, có kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn vi khuẩn và chỉ được phát hiện dưới kính hiển vi điện tử. Kích thước của chúng từ 0,03 - 0,3 mcm (1 mcm hay micromet = 1 phần ngàn của mm), còn kích thước của tế bào khoảng vài mcm. Cấu tạo của virus là một tế bào chưa hoàn chỉnh (chỉ gồm protein và axit nucleic), không thể sống tự lập trong môi trường và không thể tự sinh sản được. Do đó virus phải sống nhờ vào tế bào mà nó nhiễm (tế bào ký chủ) và sinh sản bằng cách bắt tế bào bị nhiễm sinh sản dùm chúng. Cấu trúc bảo vệ của virus gọi là capsid có protein liên kết với thụ thể của tế bào ký chủ, nên virus có thể bơm các tiểu phân của chúng (gọi là viria) vào tế bào, do đó virus có thể sống tiềm ẩn lâu dài trong tế bào ký chủ. Thí dụ virus cúm có thể sống nhờ nhiều tháng trong niêm mạc hầu họng của ta mà không gây bệnh, chờ khi sức đề kháng của ta bị suy yếu thì chúng sinh sôi nảy nở và gây bệnh. HIV có thể tiềm ẩn nhiều năm, rồi mới tái tạo, sinh sôi rời bỏ tế bào chủ để gây nhiễm cho các tế bào khác...
Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loại virus, trong đó có khoảng 300 loại có khả năng gây bệnh cho người như AIDS, viêm gan A, B, C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa...
Virus gây bệnh như thế nào?
Hoặc tiềm ẩn trong tế bào ký chủ, thỉnh thoảng làm suy yếu cơ thể người vài ngày (như virus herpes gây mụn rộp ở miệng).
Hoặc phá huỷ tế bào chủ, gây rối loạn chức năng, gây bệnh thành dịch trên một quần thể lớn như Ebola, sốt xuất huyết, HIV... có thể gây tử vong cho người.
Làm sao tìm ra được virus gây bệnh?
Đối với những virus đã được biết rõ, người ta lấy máu của bệnh nhân để tìm các kháng thể của virus (kháng nguyên). Có nhiều phương pháp để phát hiện kháng thể bằng các phản ứng hoá học như tạo màu, huỳnh quang... hiện nay, có một phương pháp mới gọi là PCR (Polymerase Chain Reaction): lấy một mảnh hệ gen của virus, kết hợp với một loại men có thể sao chép hệ gen này, từ đó, gen tương ứng được phóng đại với lượng lớn nên có thể xác định được.
Đối với những virus chưa biết, người ta phải dùng kính hiển vi điện tử để xác định sự có mặt của các hạt virus trong chất lỏng ở cơ thể bệnh nhân, sau đó phân lập virus để nghiên cứu.
Tuy nhiên, có khi người ta phải kết hợp cả hai phương pháp kể trên mới có thể phân lập được virus (virus gây bệnh SARS).
Cách phòng chống bệnh do virus
Phòng chống bệnh do virus gây ra, trước hết phải làm tăng sức đề kháng của cơ thể, tốt nhất là dùng vaccin. Với loại virus chưa có vaccin, phải tránh tiếp xúc bằng nhiều cách như rửa tay bằng xà – bông sau khi tiếp xúc với nguồn lây bệnh, mang găng tay, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với nguồn lây bệnh, dùng bao cao su khi quan hệ tình dục, cách ly người bệnh, thanh toán ổ dịch...
Cần nhớ rằng, có bao nhiêu virus thì cũng có bấy nhiêu cách truyền bệnh. Ví dụ như virus bệnh cúm lây lan qua các phân tử nước ở đường hô hấp khi ho, hắt hơi; virus gây bệnh viêm gan B, C, AIDS thì lây qua đường tiếp xúc các chất dịch trong cơ thể như máu, tinh dịch; đối với virus bại liệt thì lây truyền qua đường thức ăn và nước...
Thời gian virus tiềm tàng trong cơ thể (thời kỳ ủ bệnh) càng lâu, bệnh phát càng nặng.
Vaccin có tác dụng như thế nào?
Khi tiêm hoặc uống một vaccin là đưa kháng nguyên vào để “tập dượt” cho hệ miễn dịch của cơ thể, để tạo ra kháng thể, hoặc phương cách chống lại virus đó, để khi virus đó xâm nhập thì hệ miễn dịch biết cách tiêu diệt chúng. Do đó người được dùng vaccin nào thì chỉ được miễn dịch đối với bệnh đó, nếu dùng đúng liều lượng và thời gian còn hiệu lực.
Ngoài ra, còn có loại vaccin thụ động, không có kháng nguyên, mà chỉ chứa toàn kháng thể, loại này chỉ bảo vệ cơ thể trong thời gian từ vài tuần đến vài tháng. Loại này được gọi là liệu pháp huyết thanh, thường được sử dụng khi cơ thể đã nhiễm virus nguy hiểm với hy vọng có thể diệt được virus, trước khi vaccin dùng liền sau đó có hiệu lực.
Hiện đã có thuốc điều trị bệnh do virus gây ra chưa?
Thuốc điều trị được bệnh do virus gây ra phải đáp ứng được những điều kiện sau:
- Diệt được virus hoặc ngăn cản chúng phát triển nhưng không làm hại hay phá huỷ tế bào ký chủ trong cơ thể người.
- Phải nhằm vào một mục tiêu luôn thay đổi vì virus đột biến nhanh.
- Thuốc phải tác dụng nhanh vì bệnh gây ra do virus rất độc và tiến triển nhanh.
Do những điều kiện như trên, thuốc điều trị bệnh do virus hiện vẫn còn ít. Ngoài ra, các thuốc này thường có tác dụng phụ, đôi khi khiến bệnh nhân không chịu đựng nổi. Hiện nay chỉ mới có thuốc kháng virus herpes, AIDS và viêm gan, nhưng chỉ tác dụng giới hạn hoạt động của virus chứ chưa thể diệt hoàn toàn được chúng.
Cơ chế tác dụng của những loại thuốc kháng virus này bao gồm ức chế sự phá huỷ capsid, làm tiểu phân virus không thâm nhập được vào trong tế bào ký chủ, hoặc ngăn cản virus sinh sản trong tế bào.
Thế nào là bệnh dịch do virus?
Bệnh do virus gây ra thường dễ lây lan nhanh như đã nói ở trên. Nhưng khi số lượng người mắc bệnh quá nhiều và khó có khả năng kiểm soát thì chính quyền và ngành y tế tại chỗ cần phải xem xét đến khả năng tuyên bố dịch bệnh lưu hành. Vấn đề là khi nào thì được xem là dịch bệnh do virus?
Bệnh dịch được xem là bắt đầu khi số lượng trường hợp bệnh nhân được phát hiện nhiều hơn số bệnh nhân ở cùng thời điểm của những năm trước. Nhưng nếu là loại virus từ trước chưa biết thì ngay trường hợp phát bệnh đầu tiên đã có thể xem là có dịch. Còn nói đến đại dịch là khi bệnh dịch lan ra một vùng rộng lớn, một nước, một châu lục hay số qui mô toàn thế giới. Một ví dụ đại dịch chính là bệnh đậu mùa đã gây tử vong 135 triệu người trong khoảng thời gian 1900 - 1967 và bệnh AIDS hiện nay.
Tại sao ngày càng xuất hiện nhiều loại virus mới?
Do đột biến gen nên virus có thể biến đổi từ loại này sang loại khác.
Đặc tính của virus được biết đến lâu nay là tính đặc trưng cho một loại cơ thể. Ví dụ: virus ở cây cối không nhiễm cho động vật, virus ở côn trùng không nhiễm cho động vật có vú.... Nhưng nếu ở cùng một bộ thì chúng có thể biến đổi từ loài này sáng loài khác. Ví dụ: virus bệnh AIDS và virus Ebola gây bệnh xuất huyết đều từ loài khỉ mà ra.
Muốn cho virus biến đổi sang loài khác, chúng phải có sự tiếp xúc chặt chẽ, ví dụ trong chăn nuôi. Việc sống hỗn tạp giữa người và gia súc cộng với điều kiện vệ sinh thấp trong nông nghiệp truyền thống đã gây nên sự biến đổi giữa các loài virus. Nhưng ngay cả ở những nước phát triển, việc mở rộng chăn nuôi cũng có thể gây nên sự lan truyền các virus có nguồn gốc động vật sang con người.
Cần thiết phải xác định hệ gen của virus
Nhằm mục đích xác định trình tự của amino axit trong hệ gen của virus để biết rõ cấu trúc hoá học, từ đó tạo ra các test (thử nghiệm) để phát hiện ra virus ở người có triệu chứng nhiễm một bệnh do virus đó.
Nghiên cứu gen của virus còn nhằm mục đích tìm hiểu tính đột biến của virus. Đây chính là tiền đề của việc nghiên cứu công thức của thuốc kháng virus mới.
Virus chính là một mối nguy cơ lớn trên thế giới vì cách thức lây truyền và thời gian ủ bệnh lâu, người lành cũng có thể mang mầm bệnh và lây truyền cho người khác. tuy vậy, người ta nhận thấy vẫn có những vùng ít tiếp cận với bệnh và vẫn có một số người có miễn dịch tự nhiên với một số bệnh. Việc quan trọng là ý thức phòng chống sự lây lan virus trong cộng đồng (đặc thù đối với từng loại virus dựa theo cách thức lây lan của chúng) và sự phối hợp giữa Nhà nước (chính quyền, ngành y tế, môi trường...) với người dân trong việc phòng dịch và chống dịch.








