Những điểm cốt lõi trong vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa
Vấn đề Biếtvà vấn đề Phát hiện
Khi Việt Nam chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đó là những đất vô chủ ( Terra Mullius). Nhưng để chứng minh rằng đó là những đất thuộc Trung Quốc, nhà chức trách Trung Quốc đã đưa hàng loạt sách cổ để nói rằng người Trung Quốc đã Biếttừ lâu. Theo Luật quốc tế, BIẾT khác với PHÁT HIỆN. BIẾT không đủ đem lại chủ quyền. BIẾT là một khái niệm mơ hồ của người đi qua hay nghe nói, còn phát hiện phải tới nơi đó. Có PHÁT HIỆN mới có chiếm hữu. Yêu cầu của luật là sau khi phát hiện một lãnh thổ vô chủ, việc chiếm hữu phải được tuyên bố công khai. Như thế mới đạt được một danh nghĩa sơ khởi (inchoate title), không đủ để giữ được chủ quyền đó. Muốn giữ được chủ quyền đó, cần phải chiếm hữu thật sựvà thực hiện quyền làm chủ của mình, Chiếm hữu thật sự tỏ rõ ý chí của Nhà nước. Chiếm hữu thật sự là thành tố vật chất ( corpus). Tỏ rõ ý chí muốn giữ đất đó là thành tố chủ tâm ( animus). Hai thành tố đó tạo nên chủ quyền. Cũng cần nói thêm là việc tư nhân chiếm hữu không mang lại chủ quyền, phải là Nhà nước chiếm hữu mới mang lại chủ quyền. Trung Quốc đã đưa ra nhiều sách cổ từ thời Tam Quốc đến đời Thanh, kể cả những sách nói về các đất ngoài Trung Quốc đã kết luận chung như: “Một số lớn các sách lịch sử và các tài liệu cũng như rất nhiều các di vật khảo cổ khai quật được đều chứng minh rõ ràng các đảo Tây Sa và Nam Sa từ lâu đã là lãnh thổ của Trung Quốc” (Bản in Trung Quốc học số 7, ngày 20 - 1 - 1988).
Cái gọi là sự quản hạt của Trung Quốc đối với hai quần đảo
![]() |
| Sân quan trắc Trạm Khí tượng Hoàng Sa (1952) |
Quan điểm của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế. Nhà nước Đại Việt đã thành lập đội Hoàng Sa để chiếm hữu và khai thác quần đảo này và quản lý Trường Sa. Danh nghĩa chủ quyền của Nhà nước Đại Việt thế là đã rõ. Việc Đại Việt thực hiện chủ quyền trên hai quần đảo đó kéo dài hàng mấy trăm năm mà Trung Quốc không hề phản đối. Năm 1754 một thuyền của đội Hoàng Sa bị bão trôi dạt vào một cảng của đảo Hải Nam . Sau khi xem xét thấy đúng là thuyền của đội Hoàng Sa, các quan chức Trung Quốc đã trao trả các thuỷ thủ của đội Hoàng Sa cho phía Đại Việt mà không hề phản đối (xem Phủ biên tạp lụccủa Lê Quý Đôn).
Đến thế kỷ XX, Trung Quốc không hề nói đến quần đảo Tây Sa, Nam Sa trong nhiều trường hợp cần phải nói. Trong hội nghị thượng đỉnh các nước tham gia chiến tranh Thái Bình Dương tại Cairo năm 1943 để bàn về việc Nhật Bản phải rút khỏi các lãnh thổ Trung Quốc mà Nhật Bản chiếm đóng, ông Tưởng Giới Thạch, nguyên thủ quốc gia của Trung Quốc tham gia dự hội nghị này chấp nhận Nhật Bản sẽ rút khỏi Mãn Châu, Đài Loan, Bành Hồ. Nếu quả Tây Sa, Nam Sa thật là của Trung Quốc thì sự chấp nhận đó về pháp lý có ý nghĩa một sự từ bỏ (andandon).
Khi ký hoà ước với Nhật bản, Trung Hoa Dân quốc chỉ ghi Mãn Châu, Đài Loan, Bành Hồ là lãnh thổ Trung Quốc, Trung Quốc không đòi Nhật Bản trả lại Tây Sa, Nam Sa.
Tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, đại biểu Liên Xô là Gromyko đề nghị trao trả Paracels cho Trung Hoa nhân dân, khi Hội nghị bỏ phiếu, 48 địa biểu trên 51 đại biểu đã bác bỏ đề nghị đó của Liên Xô. Trong khi đó, ông Trần Văn Hữu, thủ tướng Chính phủ Sài Gòn tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ lâu là lãnh thổ Việt Nam, cả Hội nghị không ai phản đối hay bảo lưu.
Tuyên truyền của Bắc Kinh còn nhấn mạnh chuyến đi Hoàng Sa của đô đốc Lý Chuẩn năm 1909. Ông ta dẫn ba chiếc pháo thuyền đến một vài hòn đảo của quần đảo Hoàng Sa, bắn vài phát súng rồi kéo cờ. Bắc Kinh coi đó là cái mốc chủ quyền. Sự thật việc dàn dựng chuyến đi đó không chứng minh được danh nghĩa chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa khi đó đã có chủ là nước Việt Nam mà nước Pháp là đại diện từ năm 1884. Nó chỉ chứng minh rằng tất cả các luận cứ của Trung Quốc từ trước đến năm 1909 là không có giá trị.
Một số sách địa lý của Trung Quốc như cuốn địa lý phủ Quỳnh Châu,cuốn địa chí tỉnh Quảng Đôngnăm 1731 vẽ bản đồ tỉnh Quảng Đông mà không vẽ hai quần đảo.
Danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo là vững chắc
Khi giải quyết vụ tranh chấp giữa Hà Lan và Hoa Kỳ về hòn đảo Palmas, trọng tài Max Ruber đã kết luận muốn đi tới danh nghĩa chủ quyền đối với một lãnh thổ, cần phải chiếm hữu thật sự, thực hiện chủ quyền đó một cách liên tục.
Căn cứ luật quốc tế và án lệ của toà án, có thể khẳng định danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo là rõ ràng và vững chắc.
Quần đảo đã được Việt Nam phát hiện, chiếm hữu thật sự và làm chủ dưới hình thức thành lập một tổ chức Nhà nước tên là đội Hoàng Sa vừa quản lý vừa khai thác. Danh nghĩa chủ quyền đó đối với hai quần đảo được khẳng định và duy trì, củng cố từ thời các chúa Nguyễn đến 1884 khi Pháp thiết lập chế độ bảo hộ và thay mặt Việt Nam về đối ngoại. Tổ chức khí tượng thế giới (OMM) giao dịch với Pháp để đặt hai trạm khí tượng số 48860 và 48859 tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1938. Năm 1950 chính phủ Pháp chính thức trao lại chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Quần đảo Hoàng Sa được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam là huyện Quảng Nghĩa, hiện nay quần đảo Hoàng Sa là huyện Hoàng Sa tỉnh Quảng Nam, quần đảo Trường Sa là huyện Trường Sa tỉnh Khánh Hoà.
Việc Trung Quốc đem quân chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1956 và 1974, chiếm một phần quần đảo Trường Sa năm 1988 là vi phạm chủ quyền của Việt Nam, trái với các quy định của Liên hợp quốc.
Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ký lệnh thiết lập một ngọn hải đăng trong quần đảo Hoàng Sa. Năm 1920, quan thuế Pháp đưa hải thuyền tới thường xuyên kiểm soát quần đảo. Năm 1930, tàu Malicieuse đổ bộ vào quần đảo Hoàng Sa, dựng cờ chiếm hữu. Từ 1931 đến 1939 Pháp đưa quân đội tới đóng tại đảo Hoàng Sa, và năm 1938 Pháp đã dựng bia chủ quyền ghi rõ:
“ République Francaise
Empire d’Annam
Archipel des Paracels
1816 - lle de Pattle - 1938”
Cũng vào năm 1938, trạm khí tượng Hoàng Sa được thành lập và chính thức hoạt động. Quần đảo Hoàng Sa bị Nhật chiếm trong Thế chiến thứ II, nhưng sau khi Nhật thua, vào năm 1947 Pháp đã phái chiến hạm Le Tonkinois tới thu hồi lại; đồng thời khôi phục lại Trạm khí tượng đã ngừng hoạt động từ 1944 đến 1946.
Ngày 14 - 10 - 1950 Pháp chuyển giao việc phòng thủ đảo Hoàng Sa cho bộ máy cai trị Trần Văn Hưu. Tháng 11 - 1951 đoàn đại biểu Chính phủ Trần Văn Hữu tham gia hội nghị hoà bình San Francisco đã lên tiếng xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có một sự phản đối nào của 51 nước tham dự.
Nguồn: Xưa & Nay, số 303, 3 - 2008, tr 3









