Những cội nguồn của Cách mạng tháng Tám
Thực ra, ở Việt Nam, bước chuyển tiếp từ giai đoạn thuộc địa sang thời kỳ độc lập không phải là sự giải thực dân hoá theo kiểu đã diễn ra ở châu Phi và ngay cả như ở Ấn Độ. Đây không phải là một sự chuyển giao một cách đơn thuần chính quyền từ tay những viên chức thực dân sang tay một tầng lớp “ Thượng lưu bản xứ” mà là một sự đảo lộn về mọi phương diện chính trị, xã hội, văn hoá, đặc điểm của một cuộc cách mạng do quần chúng nhân dân tiến hành.
Hầu như tất cả những sự kiện diễn ra sau năm 1945 đều bắt nguồn từ căn nguyên đó một cách trực tiếp hay gián tiếp. Nhưng điều mà tôi muốn bàn tới ở đây lại là những sự kiện diễn ra trước đó, ít nhất là những sự kiện diễn ra từ 1905, đó là những sự kiện có ý nghĩa khi ta đặt chúng trong quĩ đạo lịch sử đã đưa đến Cách mạng tháng Tám - một cuộc cách mạng đã tạo nên những chuyển hướng quan trọng của lịch sử thế giới, giống như cuộc Cách mạng Pháp diễn ra vào cuối thế kỷ thứ XVIII, cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917 hay là cuộc Cách mạng Trung Hoa.
Những sự kiện mà tôi cho là đã dẫn đến cách mạng tháng Tám có lẽ không thể phủ nhận được đó là những sự kiện diễn ra trong những năm 1924 - 1925, biểu hiện sự phát triển về chiều sâu của phong trào Cách mạng và sự bết tắc của nền đô hộ của chủ nghĩa thực dân. Đối với những gì thuộc về giai đoạn trước những năm 1924 - 1925, nghĩa là trước những hoạt động trực tiếp của Hồ Chí Minh và sự du nhập của chủ nghĩa Mác, dường như kém trực tiếp hơn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về giai đoạn đó đã đưa tôi đến với giả thiết này. Chủ định của tôi cũng là nhằm vào việc thử xét xem những sự kiện diễn ra vào cái phần tư đầu tiên của thế kỷ XX có ý nghĩa như thế nào khi ta đặt chúng trong qũi đạo đã dẫn đến không phải một cách ngẫu nhiên, bởi vì không có sự ngẫu nhiên trong lịch sử, mà lẽ đương nhiên là dẫn dến cách mạng tháng Tám.
Sự liên kết được đặt ở ba bình diện: một mặt, đó là những con người, mà về phương diện này mối liên hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh là một trong những ví dụ điển hình. Ta còn, có thể ngược lên trước cả năm 1905 vì rằng bước chuyển tiếp từ phong trào Cần Vương tới phong trào do các sĩ phu tân tiến lãnh đạo được đảm bảo bởi một loạt những chiến sĩ mà theo tôi thì đó là Tán Thuật và những người con trai của ông. Mặt khác, tất cả những phong trào kháng chiến nối tiếp nhau, từ Cần Vương đến Việt Nam Quốc dân Đảng đã đem lại những kinh nghiệm bằng chính những thành công cũng như sự thất bại của chúng, đã vẽ ra con đường tất yếu để đi đến giải phóng đất nước. Đó là con đường đã dẫn đến chiến thắng trong Cách mạng tháng Tám. Cuối cùng, tiến trình của nền đô hộ thuộc địa được đánh dấu bằng những thất bại, những khiếm khuyết, những thiếu sót là những cái đã đóng góp vào việc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phong trào nhân dân rộng lớn vào tháng Tám năm 1945, một phong trào còn biết tranh thủ những thời cơ thuận lợi từ bên ngoài.
Dưới đây, tôi chỉ xin trình bày một cách ngắn ngọn về hai khía cạnh cuối cùng mà thôi.
Tôi cho rằng cũng không phải là quá đáng khi cho bắt đầu thế kỷ thứ XX ở châu Á bằng năm 1905. Chiến thắng của Nhật đối với nước Nga Sa hoàng đã làm bùng lên một làn sóng phản ứng từ Trung Á tới Viễn Đông, qua Ấn Độ . Vậy những điều kiện nào đã tồn tại ở Việt Nam để cho làn sóng phản ứng đó có thể tác động một cách đặc biệt tới đất nước này?
Sự thực là phong trào kháng chiến dân tộc đã không ngừng diễn ra từ khi người Pháp tấn công Đà Nẵng và Sài Gòn 1858 - 1859. Nhưng sau cái chết của Phan Đình Phùng vào năm 1895, phong trào ấy đã rơi vào một thời kỳ thoái trào. Trong cả một thập niên trước 1905, phong trào đấu tranh vũ trang đã giảm đi nhiều: trong những năm 1897 - 1898, phong trào ở xung quanh Hà Nội, Hải Phòng rất yếu ớt và bị dìm trong biển máu, Đề Thám phải giả vờ đầu hàng và những hạt nhân của cuộc đấu tranh vũ trang còn lại ở Trung kỳ thì dường như không còn lực lượng. Giai đoạn chinh phục, kéo dài gần 40 năm được coi là đã hoàn thành và chính quyền thuộc địa tin là đã dẹp được lực lượng kháng chiến để từ đó, từ 1897 trở đi, Paul Doumer đưa ra thực hiện chính sách về thuế khoá hết sức nặng nề, cho phép một khoản vay 200 triệu franc vàng và khởi công xây dựng những tuyến đường sắt. Thế kỷ XX dường như đã được mở ra ở Đông Dương bằng thắng lợi của trật tự thuộc địa. Một thắng lợi khá là muộn màng vì rằng đã phải chờ đến 40 năm mới có thể dự tính đến một cuộc “ khai thác” chung và có hệ thống. Nhưng đó một thắng lợi kém được đảm bảo vì đã nhanh chóng bộc lộ sự tiếp diễn của những sự biến.
Để có thể hiểu được sự phục hồi của phong trào dân tộc từ những năm 1904 - 1905 trở đi, thiết tưởng nên làm một bản tổng kết về phong trào Cần Vương là phong trào mà người ta có thể tóm lược một cách đại thể bằng ba mệnh đề là: một mặt, chính phong trào Cần Vương đã làm chậm một cách đáng kể việc chiếm đoạt về kinh tế của chế độ thực dân. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, vốn đầu tư của tư bản tư nhân lẫn vốn của nhà nước hãy còn nhỏ nhoi do đã không mấy dám liều lĩnh đưa vào Việt Nam là nơi người Pháp còn chưa đặt được ách thống trị một cách chắc chắn. Để có thể xây dựng được tuyến đường sắt đầu tiên tới Lạng Sơn, các nhà thầu đã phải tìm tới vốn ở Luân Đôn và việc khai thác mỏ than đầu tiên ở Hòn Gai lại là do Hồng Kông cung cấp về tài chính. Về vốn của Nhà nước, Paris đã kiên quyết từ chối mọi khoản vay do Nhà nước đảm bảo cho đến năm 1898. Chế độ thực dân Pháp đã xuất hiện như vậy, vào buổi bình minh của thế kỷ XX, chậm muộn hơn so với những nước láng giềng.
Mặt khác, phong trào Cần Vương đã tôi luyện một thế hệ những chiến sĩ cách mạng. Hẳn là, vào đầu thế kỷ thứ XX, đa số đã hy sinh, thường là tại những nhà tù khổ sai hay bị hành hình, nhưng vẫn còn lại nhiều người đảm bảo cho sự tiếp nối với một thế hệ mới như Phan Bội Châu đã thừa nhận trong hồi ký của mình.
Cuối cùng, ngay cả sự thất bại của phong trào Cần Vương cũng có một tác dụng mang tính chất giải phóng. Đó là, khuôn khổ chật hẹp của Nho giáo truyền thống, một trong những động lực chính của phong trào Cần Vương và cũng là một trong những nguyên nhân thất bại của phong trào này, đã bị phá vỡ. Từ đó, giới trí thức Việt Nam chỉ có thể tiếp nhận những tư tưởng tân tiến mà với cả bầu nhiệt huyết, những sĩ phu thuộc thế hệ mới đã lao vào những “ Tân thư”, những cuốn sách mới đó, dẫu được đưa vào từ Trung Hoa và bằng tiếng Trung Hoa, cũng đã từng mở rộng chân trời tri thức cho cả toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX này, tư tưởng dân tộc của Việt Nam đang trên đường tự giải phóng ra khỏi sự tù túng trong truyền thống Trung Hoa và tiến tới phát triển một giai đoạn mới trong tiến trình lịch sử của mình, một… sự tiếp nối giữa những khía cạnh truyền thống và sự tiếp thu những nhân tố đã hoàn toàn chín mùi từ Viễn Đông và từ châu Âu, mà đặc biệt là từ kênh Pháp.
Hẳn rằng, thực tế là vô cùng phức tạp. Truyền thống Nho giáo không thể phá bỏ ngay một lúc. Những trường học cũ, nơi người ta vẫn tiếp tục học chữ Hán, vẫn còn nhiều mà chúng lại thu hút được nhiều học sinh hơn là những trường học Pháp - Việt do chính quyền thuộc địa lập ra. Ngay cả những sĩ phu tân tiến, như Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh cũng vẫn tiếp tục viết bằng chữ Hán và rõ ràng là những bài viết, mang đầy tính cách tân trên nhiều khía cạnh nhưng vẫn thấm đẫm tư tưởng Nho giáo. Tuy nhiên như thế cũng có cái hay của nó, vì rằng chính điều đó đã làm cho việc chống lại sự truyền bá những tư tưởng thực dân và sự trung thành với nền văn minh mang tính dân tộc được duy trì.
Ấy thế nhưng, sự mở cửa đối với cái hiện đại lại không tự đưa đến việc nắm bắt lập trường, quan điểm chống chủ nghĩa thực dân. Người ta đã từng biết đến cả một sự phức tạp trong tư tưởng của Phan Chu Trinh là người đã đặt cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa bảo thủ của giới quan lại trước cuộc đấu tranh trực tiếp chống lại chính quyền thực dân. Và cũng như những trí thức khác, như Nguyễn Văn Vĩnh là người nhờ việc dịch những tác phẩm các tác giả Âu châu mà trở thành một trong những người truyền bá cho tư tưởng tân tiến đã không gặp gỡ được, chí ít cũng là về hình thức, đội ngũ những người Cách mạng. Tuy nhiên, còn một cái cốt yếu nữa là: tư tưởng của Việt Nam ở vào buổi bình minh của thế kỷ XX được mở ra với thế giới hiện đại đã cho phép hướng người thanh niên Hồ Chí Minh đến nước Pháp và muộn hơn một chút nữa là mở ra tiếp cận đối với chủ nghĩa Mác.
Tiến trình này đã diễn ra một cách rõ ràng đến mức chính phủ thuộc địa đã phải thay đổi chính sách của mình (nguyên văn là phải đổi vai vác súng) và từ đó nó đã phải nói tới một chính sách không phải là Đồng hoá mà là Hợp tác. Sự mờ ám và tính chất dối trá của chính sách Hợp tác, một chính sách sẽ là chủ đề bao quát mọi bài diễn văn của các nhà thực dân, từ năm 1905 trở đi đã làm cho người ta dễ dàng nhận ra sự thay đổi chính sách một cách bị động của chính phủ thực dân. Công cuộc chinh phục thuộc địa của người Pháp vào cuối thế kỷ XIX đã nhằm vào việc đồng hoá quần chúng nhân dân bị đô hộ, có nghĩa là xoá bỏ tính cách riêng của họ để tạo thuận lợi cho việc tuyên truyền tư tưởng của kẻ chinh phục dù là dưới hình thức đạo thiên chúa, mục tiêu của những nhà truyền đạo hay của những tư tưởng về nền văn minh mang tính toàn cầu theo mô hình nền Cộng hoà Pháp. Sự từ bỏ chính thức đối với thuyết Đồng hoá được tính một cách chính xác từ khoảng 1905 có nghĩa là sự thất bại của những cố gắng của chủ nghĩa thực dân trước thực tế mang tính dân tộc của Việt Nam.
Từ năm 1905 trở đi, chính quyền thuộc địa đã phải thú nhận rằng nó đã phải điều chỉnh theo thực tế này vì đó là điều kiện tồn tại của sự đô hộ. Một số trí thức Việt Nam đã bị lôi cuốn bởi những bài diễn từ và như ta đã được thấy, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Phạm Quỳnh đã hợp tác với Marty là con người của nền an ninh Đông Dương trong việc xuất bản tờ Nam Phong, một tờ báo đã đóng góp vào tiến trình hiện đại hoá về trí thức trong tư tưởng của Việt Nam.
Những cái cốt lõi của sự du nhập tư tưởng hiện đại vào Việt Nam lại nằm trong sự trỗi dậy của phong trào dân tộc mạnh mẽ và sôi động dưới sự lãnh đạo của những người mà người ta quen gọi là những sĩ phu tân tiến.
Chủ định của tôi không phải là kể lại những giai đoạn khác nhau trong cuộc đấu tranh của họ mà chỉ đơn giản là xét xem những sự kiện mà họ đóng vai trò chủ chốt có ý nghĩa như thế nào trong quĩ đạo lịch sử dẫn tới cuộc Cách mạng tháng Tám.
Trước hết, những sự kiện như thư của Phan Chu Trinh gửi Paul Beau, cuộc nổi dậy của nông dân Trung kỳ, những bài viết và nhiều hoạt động của Phan Bội Châu đã làm cho phong trào mang tính quốc gia chống lại ách đô hộ thuộc địa được phục hồi một cách rực rỡ. Chỉ trong vài năm thôi người ta đã thấy chính quyền thực dân chuyển từ chỗ cảm thấy tin chắc về thắng lợi dưới thời Paul Doumer sang những thử nghiệm về chính sách hợp tác như việc lập ra Phòng Tư vấn Bắc kỳ là cơ quan chẳng khai thông được gì và dù rằng nó xuất phát từ Quảng Nam, Phan Chu Trinh đã không xuất hiện ở đấy. Còn về Phan Bội Châu, khi ông mải lo kích động một tầng lớp những thương nhân thì người ta lại không bao giờ thấy ông xem xét tới những vấn đề của nông dân cả trong hoạt động cũng như trong các bài viết. Hoạt động của ông hướng tới những cuộc âm mưu, những vụ đánh úp, nhưng đã thất bại và kết thúc bởi những cuộc đàn áp đẫm máu.
Cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đều không rút ra bài học từ những thất bại làm cho phong trào dân tộc vào đêm trước của cuộc chiến tranh thế giới, một lần nữa không những chỉ yếu kém đi mà còn mất đi một phương hướng hiệu quả. Với sự thụt lùi của lịch sử, rõ ràng rằng, chỉ có gắn cuộc đấu tranh dân tộc với những yêu sách của những người nông dân mới có thể tiến tới việc vừa giải phóng được dân tộc vừa giải phóng được quần chúng nhân dân lao động. Trái lại, thật khó cho những người đương thời trong việc vạch ra được triển vọng này. Đó là chỗ dựa cơ bản để Nguyễn Ái Quốc có thể hiểu được, tổ chức được, trên cơ sở chủ nghĩa Mác và Đảng Cộng sản, mối liên kết giữa phong trào dân tộc và cách mạng xã hội và đó chính là Cách mạng tháng Tám.
Những mâu thuẫn và sự bế tắc của nền đô hộ thực dân cũng sẽ tạo điều kiện mở con đường đó. Chính quyền thuộc địa được yêu cầu không làm tổn hại một tí nào tới mẫu quốc, trong lúc phải tạo ra nhiều lợi nhuận cho những xí nghiệp Pháp và cho phép một vài nghìn người Pháp cư ngụ tại thuộc địa làm giàu hay ít ra cũng có được một mức sống cao hơn nhiều so với mức sống mà họ có thể có ở Pháp, hay nói cách khác đi là cho phép họ được bóc lột thuộc địa và cư dân của nó. “ Khai thác thuộc địa” là cái chỉ có thể được tiến hành một cách thực sự trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX. Thế kỷ XX được mở ra trên viễn cảnh này như vậy và chính Paul Doumer đã làm cho nó phát triển.
Sự lựa chọn của chính quyền thực dân được quyết định. Cái cơ bản được đưa ra trong việc xây dựng những tuyến đường sắt hoàn toàn không dựa trên việc xem xét các nhu cầu của quần chúng nhân dân. Thế giới lúc này ở vào giai đoạn mà đường sắt dường như đã là cơ sở cho mọi sự phát triển về kinh tế. Việc xây dựng đường sắt ở Đông Dương đã đem đến cho ngành luyện kim của Pháp những đơn đặt hàng khổng lồ. Đường sắt dường như là cơ sở hạ tầng cần thiết để duy trì trật tự và bành trướng ra bên ngoài, chẳng thế, tuyến đường sắt Vân Nam lại được xây dựng trước cả khi những đoạn đường sắt xuyên Đông Dương được nối liền.
Ấy thế nhưng, nếu như những tuyến đường sắt này không mấy đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam (chở khách nhiều hơn là chở hàng hoá), chúng lại còn phong toả ngân sách trong một tình trạng gây khó dễ cho việc phát triển những ngành sản xuất khác. Gánh nặng của khoản vay nợ 300 triệu franc vàng lại hoàn toàn do Ngân sách Đông Dương phải chịu. Trái với những điều mà dư luận vẫn tin một cách chung chung, mẫu quốc không hề bỏ ra một xu nào cho vụ này. Gánh nặng này thu hút chủ yếu những nguồn thu đang còn nhàn rỗi, một khi được bộ máy của nền đô hộ chi trả. Chính vì thế, những công trình thuỷ nông, là những cái duy nhất có thể làm cho việc sản xuất chính của xứ này phát triển và để có thể đối phó với sự gia tăng dân số thì lại chẳng được tiến hành. Năm 1937, toàn quyền Brévié lo sợ trước tình trạng sản xuất thiếu gạo để nuôi sống cư dân đã thử thúc đẩy việc lập một kế hoạch xây dựng những công trình thuỷ nông cho 500.000 ha. Nhưng đã quá muộn.
Để đáp ứng những khoản chi tiêu mà trước hết là để trả nợ, chính sách thuế phải được duy trì ở mức hết sức nặng nề, thậm chí ngày càng nặng nề hơn và điều đó đã gây ra sự căm thù trong lòng dân chúng ngày càng gay gắt hơn và cuối cùng được biểu hiện bằng sự bùng nổ của Cách mạng tháng Tám.
Hơn nữa, nền đô hộ thuộc địa không thể dựa vào bất kỳ một tầng lớp xã hội nào trừ một nhúm những đại điền chủ Nam kỳ là tầng lớp mà nó đã đeo bám đến cùng. Trên thực tế, trong suốt cuộc chiến tranh chinh phục, nó đã tìm cách đè bẹp thế lực và quyền lực của các quan lại. Sự chống lại quyết liệt giới quan lại này vì hai lý do: một lý do về hệ tư tưởng, ở chỗ, các nhà truyền đạo, được những viên chức thực dân ủng hộ, muốn đập tan những người đại diện của chính quyền theo đạo Khổng với hy vọng thiên chúa giáo hoá tất cả dân chúng. Cũng còn một lý do về chính trị. Ngược lại với những gì đã diễn ra trên phần lớn những nước thuộc địa khác, chính quyền Pháp ở Việt Nam phải đối diện với một bộ máy nhà nước được tổ chức một cách chặt chẽ và đối với nó thì dường như việc phá bỏ cơ sở của bộ máy chính quyền nhà nước này là cần thiết để có thể sử dụng những gì còn lại. Ở Nam kỳ, sự từ chối và sự ra đi của những quan lại từ đầu những năm 1860, đã để lại những chỗ trống, cho phép lập ra một bộ máy hành chính trực trị của những viên chức Pháp. Còn ở Trung kỳ và Bắc kỳ, vì những điều kiện quốc tế lúc đó, nên thể chế bảo hộ đã được áp đặt lên những xứ này và được duy trì cho đến sau 1945. Trật tự trong giới những quan lại còn tại chức thì kết thúc bằng việc liên minh ít nhiều tự nguyện với những kẻ chiếm đóng để bảo vệ những đặc quyền của họ. Thế nhưng, những quan lại đó, do bị tước mất mọi quyền lực thực tế, bị khinh bỉ do đã hợp tác với người Pháp và tệ nạn ăn hối lộ của họ, đã chỉ còn là một tầng lớp xã hội đang hấp hối, tầng lớp đã đánh mất cái đã làm cho nó có sức mạnh trong đế chế độc lập và chỉ còn lại đại diện cho một thứ chủ nghĩa hoài cổ. Chính quyền thuộc địa, khi tìm cách câu kết với họ, đã muốn dựa vào họ, nhưng cuối cùng đã không tìm thấy ở nơi họ một chút sinh khí nào.
Nền đô hộ thuộc địa đã làm cho một giai cấp tư sản không thể phát triển được. Chính sách cấm phát triển một nền công nghiệp tại thuộc địa Đông Dương để không cạnh tranh với nền sản xuất chính quốc do chính phủ Pháp và những giai cấp lãnh đạo của nó chủ trương, được nhắc đi nhắc lại cho đến tận chiến tranh thế giới thứ hai. Mặt khác, khu vực thương mại lại bị nắm giữ và phân chia giữa những công ty lớn của Pháp và những đại thương Hoa kiều. Thế nhưng những đại thương Hoa kiều lại vừa rất mạnh vừ rất cần cho người Pháp. Người Pháp không thể tiếp cận với nông dân để mua thóc, gạo là thứ tạo cơ sở cho nền kinh tế và để tăng các thứ thuế là nguồn nuôi sống ngân quĩ chung được dành cho việc chi trả cho bộ máy hành chính thuộc địa, và để trả những khoản nợ vay. Vì thế mà không còn chỗ về yếu tố kinh tế cho sự phát triển một giai cấp tư sản là giai cấp có thể bảo vệ trật tự thuộc địa. Như vậy, chỉ còn lĩnh vực văn hoá là mà trong đó một tầng lớp xã hội xuất sắc phát triển nhưng đại đa số lại chống đối chế độ thống trị thuộc địa đã luôn luôn cản trở bước tiến của họ vào các chức quyền, hạ thấp họ và động chạm đến máu dân tộc nơi họ. Tầng lớp thượng lưu trí thức này tiếp cận xu hướng hiện đại vào đầu thế kỷ XX đương nhiên sẽ cung cấp cho phong trào Cách mạng những cán bộ của nó trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh.
Như vậy, chính quyền thuộc địa không thể tìm thấy chỗ dựa xã hội chính thức trong lúc lại làm tăng thêm sự đối kháng chống lại chế độ thống trị thực dân: giai cấp nông nhân, bị đè nặng bởi chính sách thuế khoá trở thành nạn nhân của sự tập trung về ruộng đất, một chế độ tạo nhiều thuận lợi cho sự chiếm đất của người Pháp; tầng lớp trí thức bị tước mất lối thoát nên dễ cảm nhận được phong trào mở cửa rộng lớn đang phát triển trên khắp vùng Viễn Đông, điều đó cho phép họ tiếp nhận tư tưởng của chủ nghĩa Mác do Hồ Chí Minh mang về.
Chắc chắn rằng, cả sự bế tắc của nền đô hộ thuộc địa lẫn những kinh nghiệm của phong trào dân tộc cũng không thể dẫn tới Cách mạng tháng Tám một cách trực tiếp được. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, một bộ phận của tầng lớp trí thức này đã lao vào cuộc chiến đấu mang tính dân tộc nhưng lại không quan tâm đến giai cấp nông nhân và đó là thảm hoạ của Việt Nam Quốc dân Đảng sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Sau đó, một bộ phận của phong trào Cách mạng do đã hiểu được vị trí quan trọng của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, nhưng hành động của họ lại không đáp ứng được nguyện vọng dân tộc sâu sắc của quần chúng nhân dân và đó chính là sự bế tắc của phái Trotskyste.
… Cuộc cách mạng tháng Tám đã đem chiều sâu lịch sử của nó vào cuộc đấu tranh mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi từ 1945 - 1975. Chính vì đã không thấy và không hiểu điều đó nên liên tục từ chủ nghĩa đế quốc Pháp rồi đến Mỹ đã tin rằng có thể áp đặt những giải pháp mà không tính đến thực tại dân tộc. Sự thất bại của họ về quân sự và chính trị dường như đã xác nhận giả thuyết mà tôi đã thử trình bày một cách ngắn gọn trên đây.








