Những chính sách bảo vệ môi trường và sử dụng nănglượng của châu Á trong thời gian gần đây
Hầu hết những nguyên nhân của việc xuống cấp môi trường sống xuất hiện như kết quả của các sai lầm thị trường, thiếu hiệu quả trong khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên năng lượng, thiếu sự hợp tác hiệu quả giữa chính quyền các địa phương, thiếu một kế hoạch đồng nhất và sự yếu kém của các cơ quan điều tiết môi trường... Điều này dẫn đến việc các nước đang phải đối mặt với những thách thức mới về vấn đề môi trường. Những nghiên cứu gần đây về vấn đề môi trường tại các thành phố của các nước thành viên châu Á chỉ ra rằng, mặc dù mức độ ô nhiễm không khí trong các thành phố có xu hướng giảm dần trong toàn bộ giai đoạn, nhưng mức ô nhiễm này vẫn vượt quá nhiều so với những tiêu chuẩn chất lượng môi trường khí quyển do WHO (World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới) khuyến cáo. Ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn trong vùng được ghi nhận ở mức cao nhất trên thế giới và vẫn tiếp tục tăng lên. Các nước đang phát triển tại Châu Á đang phải đương đầu với sự ô nhiễm không khí trong nhà từ việc đốt các nhiên liệu ở thể rắn và sự ô nhiễm và khan hiếm nguồn nước. Những phân tích của WHO đã chỉ ra trung bình trong một năm, các chất gây ô nhiễm không khí trong nhà là nguyên nhân tử vong của trên một triệu người tại châu Á chiếm khoảng 65% tổng số trường hợp tử vong của toàn thế giới. Mưa axit vẫn tiếp tục xuất hiện trong vùng bất chấp những nỗ lực đáng kể trong việc giảm phát thải các khí gây mưa axit. Khai thác rừng trái phép vẫn tiếp tục là vấn đề nóng tại một số vùng làm tăng nhanh việc xói lở đất và sa mạc hoá. Bụi và bão cát xuất hiện với mật độ thường xuyên hơn so với quá khứ, đặc biệt là tại phía đông bắc châu Á. Thêm vào đó những dự báo về sự biến đổi khí hậu toàn cầu được đưa ra như một mối đe doạ cho sự phát triển của khu vực châu Á.
Trước những thách thức mới, các nước châu Á cần chuyển đổi từ mô hình thường lệ là "phát triển trước và sau đó giải quyết vấn đề ô nhiễm " sang mô hình "phát triển bền vững". Trong khuôn khổ các chương trình hợp tác gần đây của các nước trong khu vực đã đưa ra thảo luận một số chính sách ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế có liên quan tới những thách thức mới về môi trường ở châu Á. Trong khuôn khổ bài viết này đã tập hợp và nêu một số những chính sách quan trọng đang được thực hiện và quan tâm hiện nay trên cấp độ quốc gia và liên kết với vùng và khu vực. Đó là:
1. Phối họp giữa chính quyền các cấp và các công ty gây ô nhiễm
Đối mặt với chi phí xử lý môi trường ngày một tăng tương ứng với tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Chính phủ các nước châu Á bắt đầu thay đổi cách nhận thức thông thường trước đây là khuyến khích phát triển kinh tế dựa trên sự tiêu phí môi trường. Các nước thừa nhận cần có sự quan tâm thiết thực hơn tới những chương trình hành động quốc gia về môi trường, theo đó chúng thiết lập những mục tiêu và những yêu cầu trong quá trình thực hiện. Yếu kém trong công tác tuân thủ và thực hiện tại các nước trong vùng. Chính vì thế việc tập trung đầu tư vào việc tăng cường sức mạnh của các cơ quan quản lý về vấn đề môi trường là điều kiện cần thiết đầu tiên. Thêm vào đó, cần có sự tham gia tích cực và đầy đủ của tất cả những công ty, đơn vị đang hoạt động trong nền kinh tế. Để làm được điều này, sự phối kết hợp hiệu quả giữa chính quyền các cấp và địa phương đóng vai trò quyết định. Các cơ quan trung ương của một số nước trong khu vực đã bắt đầu từ bỏ dần khái niệm họ có thể và nên làm tất cả mọi việc, rõ ràng những cơ quan này cần tới sự hợp tác của những tổ chức và chính quyền tại các địa phương trong việc thực hiện các chính sách. Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều nước châu Á đã thực hiện phân quyền và trách nhiệm theo vùng, chuyển giao việc kiểm soát tài nguyên và quyền quyết định cho các cơ quan tại địa phương, đồng thời gia tăng trách nhiệm của những cơ quan này đối với việc đảm bảo chất lượng môi trường tại vùng theo những mục tiêu cụ thể.
2. Các chính sách kinh tế
Thiết lập được những chính sách kinh tế đúng đắn là điều tối quan trọng vì những chính sách này tạo ra các tín hiệu rõ ràng cho cả người sản xuất và tiêu dùng năng lượng. Đối với việc trợ giá cho nhiên liệu hóa thạch đang rất phổ biến ở các nước đang phát triển của châu Á, việc xóa bỏ sự trợ giá này là cần thiết nhằm khuyến khích sử dụng nguồn nguyên liệu hiệu quả và sử dụng công nghệ sạch, góp phần giảm phát thải tại các nguồn. Trung Quốc, Inđônêxia và Malaixia đã tăng giá năng lượng nội địa lên tương đương với mức giá quốc tế. Các công cụ thị trường như phí ô nhiễm, thuế môi trường, chứng chỉ phát thải, các biện phát xử lý, phạt do vi phạm những quy định môi trường... là những cách thông dụng để đưa những chi phí vào giá thị trường. Một số quốc gia trong khu vực châu Á trước kia sử dụng phương thức "mệnh lệnh và kiểm soát" để thực hiện quản lý các vấn đề môi trường cũng đã dần chuyển đổi sang các công cụ chính sách dựa vào thị trường. Hơn nữa, hệ thống công cụ này sẽ đánh trực tiếp vào các công ty gây ô nhiễm như một loại chi phí trong quá trình kinh doanh, cái mà công ty sẽ quan tâm để cất giảm thông qua việc cắt giảm phát thải.
3. Siết chặt các tiêu chuẩn phát thải
Thiết lập và thực thi các tiêu chuẩn phát thải đối với các nguồn cố định và lưu động cũng như chất lượng của nguồn nhiên liệu là việc làm cần thiết để kiểm soát phát thải và cải thiện chất lượng không khí cũng như thúc đẩy việc cải tiến công nghệ . Một số nước đang phát triển của châu Á đang đối mặt với các vấn đề ô nhiễm không khí đã bắt đầu thông qua những tiêu chuẩn chặt chẽ của châu Âu đối với các loại phương tiện đi lại và nhiên liệu cụ thể. Trung Quốc là nước đạt được những bước đáng kể trong việc kiểm soát phát thải của các phương tiện giao thông. Từ tháng 6 năm 2007, Trung quốc đã đưa vào thực hiện tiêu chuẩn phát thải của các phương tiện giao thông "State Phase III , (tương đương với tiêu chuẩn Euro III". Tiêu chuẩn này được danh giá là giảm phát thải thấp hơn tới 30% so với "State Phase II " (tương đương Euro II) được áp dụng vào năm 2004. Dự kiến tới tháng 7 năm 2010, Trung Quốc sẽ bắt đầu áp dụng "State Phase IV", mức được đánh giá là giảm phát thải thấp hơn tới 60% so với “State Phase II". Ấn Độ và hầu hết các nước châu Á cũng tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn tương tự đối với các phương tiện giao thông, tuy nhiên tiến độ thực hiện của các nước này trễ hơn so với Trung Quốc. Việt Nam dự kiến sẽ áp dụng hệ tiêu chuẩn đối với phương tiện giao thông tương dương Euro IV vào năm 2012.
4. Nâng cao hiệu suất năng lượng và sử dụng năng lượng sạch
Khi chất lượng cuộc sống được cải thiện, dẫn tới việc tăng nhu cầu sử dụng các thiết bị điện, tăng nhu cầu về một nơi ở thoải mái với việc cung cấp hệ thống nóng và lạnh, cũng như các phương tiện đi lại. Điều này làm gia tăng áp lực về nhu cầu năng lượng. Thời điểm hiện nay cần thiết để đưa ra những chính sách tăng cường sử dụng năng lượng có hiệu quả thông qua việc nâng cao quản lý về mặt cầu. Các chính sách đầu tư của khu vực đã dần quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả sự dụng năng lượng thông qua các chương trình quản lý nhu cầu. Nhiều nước châu Á đã thiết lập và ban hành các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng đối với các thiết bị công nghiệp và dân dụng, tiêu chuẩn các tòa nhà, tiêu chuẩn phương tiện mới kết kiệm năng lượng... kết hợp với các chính sách về giá năng lượng. Đây là cách rẻ nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề môi trường trong ngắn hạn. Nhiều nước châu Á đang phải đối mặt với vấn đề thiếu hụt năng lượng thường xuyên, do vậy tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng góp phần làm giảm nhu cầu đầu tư hệ thống hạ tầng cung cấp năng lượng mà vẫn có thể đạt được sự cân bằng cung - cầu. Ngoài ra, rất nhiều quốc gia tại châu Á là các nước xuất khẩu, do vậy việc giảm nhu cầu năng lượng thông qua sử dụng tiết kiệm và hiệu quả sẽ làm giảm giá năng lượng, tăng sức cạnh tranh quốc tế.
Tuy vậy, đứng trên quan điểm dài hạn, việc mở rộng sử dụng năng lượng sạch mới là giải pháp thực sự. Tăng cường sừ dụng năng lượng mới không những giúp cho việc đảm bảo an ninh năng lượng mà đây còn là những nguồn năng lượng thân thiện với môi trường. Một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaixia, Philipin, Pakistan và Thái Lan đã đặt ra những mục tiêu quốc gia về phát triển năng lượng mới. Trung Quốc đặt ra kế hoạch đạt 16% tỷ trọng năng lượng mới trong tổng năng lượng sơ cấp vào năm 2020. Việt Namđặt mục tiêu 6%, Pakistan đạt mức 15% đến 20%... Để thực hiện được các mục tiêu này, hiện Chỉnh phủ các nước châu Á đang tích cực đưa ra các chính sách khuyến khích phát triển năng lượng mới. Tuy nhiên, tại một số nước trong vùng, khi việc trợ giá đối với các nhiêu liệu hóa thạch vẫn còn phổ biến, giá các nguồn nhiên liệu này hiếm khi tính đến yếu tố tác động môi trường và xã hội trong quá trình sản xuất, vận chuyển và sử dụng. Những yếu tố này là nhân tố tác động ngăn trở đáng kể tới việc thâm nhập và thương mại hóa các nguồn năng lượng mới, ngoại trừ các thủy điện lớn.
Giải quyết những vướng mắc này, ngoài việc loại bỏ dần trợ giá, tính đầy đủ các yếu tố chi phí vào giá thành năng lượng thì chính phủ của 48 nền kinh tế, trong đó có 14 nền kinh tế đang phát triển đã có một số hệ thống chính sách để thúc đẩy phát triển năng lượng mới, phổ biến nhất là các chính sách về hỗ trợ nghiên cứu phát triển, hỗ trợ thuế và giảm thuế nhập khẩu và xuất khẩu thiết bị, ủy thác năng lượng mới, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ khoản vay, điều tiết và áp đặt tiêu chuẩn công nghệ, khuyến khích tiêu dùng, mua bán phát thải và đấu thầu cạnh tranh...
Các ngân hàng phát triển có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển năng lượng sạch. Trong nhiều năm trước đây, các ngân hàng này có những khoản tài trợ cho các dự án năng lượng thông thường như nhiệt điện than vì không quan tâm đến vấn đề hiệu quả năng lượng và năng lượng mới. Hiện nay, đã có những tín hiệu đáng khích lệ từ phía những ngân hàng là các chính sách sẽ có sự thay đổi, tuy nhiên sự thay đổi này chưa ở mức độ mong muốn, nhưng trong tương lai, các chính sách sẽ tăng cường sức mạnh tài chính thông qua các ngân hàng để hỗ trợ cho công nghệ và dự án năng lượng mới.
5. Thống nhất các chính sách môi trường với các chính sách ngành và chính sách kinh tế
Các nước trong khu vực hiện nay đang đương đầu với rất nhiều những áp lực liên quan tới vấn đề xã hội như cung cấp nước và các dịch vụ vệ sinh, xử lý rác tới những đô thị nghèo, cải thiện hệ thống hạ tầng công cộng và các hạ tầng cơ bản khác, giảm đói nghèo cũng như cải thiện môi trường. Để thực thi các vấn đề môi trường hiệu quả và mang lại những lợi ích tối đa, Chính phủ các nước nhận ra rằng các chính sách môi trường cần được thống nhất và kết hợp với các chính sách kinh tế, chính sách đầu tư chính sách năng lượng, chính sách giao thông vận tải, chính sách sử dụng đất và các chính sách phát triển nông thôn khác. Điều này giúp cho việc xem xét các chính sách môi trường không chỉ là giải quyết các mối đe dọa môi trường tiềm ẩn mà còn góp phần nâng cao hiệu quả năng lượng, giảm tắc nghẽn, tiết kiệm tiền, thiết lập các hoạt động toàn diện mọi mặt để đảm bảo phát triển bền vững.
Mốt số nước trong khu vực hiện đang sử dụng công cụ đánh giá môi trường chiến lược như một giải pháp hữu hiệu để kết hợp các vấn để môi trường với các chính sách ngành và chính sách kinh tế trong từng giai đoạn kế hoạch. Đánh giá môi trường chiến lược sẽ tích hợp các vấn đề môi trường vào việc thiết lập các kế hoạch và chương trình, từ đó xem xét giảm các tác động môi trường về mặt tổng thể một cách tối ưu nhất. Trung Quốc và Hàn Quốc là hai nước có mối quan tâm lớn nhất tới việc áp dụng đánh giá môi trường chiến lược.
6. Thúc đẩy những cam kết trong lĩnh vực tư nhân
Những hành động cam kết của khu vực tư nhân là rất cần thiết để mang lại sự thành công, không chỉ đơn giản vì những đòi hỏi đầu tư được trông đợi từ khu vực công cộng đã quá nặng. Trên tất cả, bản thân các công ty, các hãng tham gia toàn bộ vào quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sản phẩm và phát thải ô nhiễm. Vì vậy, một tương lai bền vững cho châu Á không thể thiếu vai trò của khu vực tư nhân. Những cơ chế chính sách môi trường của quốc gia cần tận dụng những tác động tích cực của toàn cầu hóa để tăng áp lực thúc đẩy khu vực này tham gia vào những cam kết môi trường. Sự toàn cầu hóa và xóa bỏ ranh giới quốc gia trong trao đổi thương mại khiến hoạt động kinh doanh cần tính đến khuynh hướng tiêu dùng và thị hiếu của thế giới. Các chương trình gắn nhãn sinh thái đang diễn ra ngày một rộng rãi, khu vực tư nhân cần đối mặt với việc quan tâm tới những công nghệ thân thiện với môi trường và hiệu quả hơn trong sử dụng năng lượng. Đây là điểm thuận lợi để những nhà hoạch định chính sách dành được sự ủng hộ từ khu vực này trong tương lai.
Những vấn đề về môi trường đã vượt khỏi biên giới quốc gia và trở thành một vấn đề toàn cầu. Việc giải quyết sẽ hiệu quả hơn khi có sự kết hợp với các nước láng giềng trong việc thực hiện chương trình hành động thay vì thực hiện độc lập tại từng quốc gia. Rõ ràng, sự hợp tác và liên kết của khu vực và thể giới là một phần bổ sung không thể thiếu để hoàn thiện các chính sách của mỗi quốc gia và mang đến lợi ích chung lớn nhất, nó không phải là một bộ phận phụ trợ trong các chính sách của mỗi quốc gia. Trong thời gian gần đây Chính phủ các nước châu Á đã cùng nhau thực hiện một số chương trình liên quan tới bụi và bão cát, đối phó với việc gia tăng tác động tiêu cực do mưa axit. Được quan tâm nhiều nhất hiện nay trong các chương trình hợp tác khu vực là cuộc chiến đấu chống lại sự thay đổi khí hậu được đề cập tại Hội nghị khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc và được nêu trong hiệp định Protocol. Châu Á tham gia dự án cơ chế phát triển sạch đã được đăng ký, đang trong quá trình đăng ký và chờ phê chuẩn, chiếm tới gần 76% tổng số dự án toàn thế giới với trên 79% chứng nhận giảm phát thải được ước tính đến 2012. Điều này cho thấy sức ảnh hưởng của châu Á trong nỗ lực chung của thế giới trong việc giải quyết các vấn đề môi trường.
Tóm lại, các nước châu Á đang đứng trước các thách thức lớn giữa áp lực giữa việc cung cấp năng lượng đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế cao, đồng thời giải quyết được các vấn đề môi trường ngày một tăng. Một tín hiệu tốt cho khu vực là ngày càng nhiều các quốc gia trong vùng nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế bền vững và quan tâm tới những tác hại không thể lường trước do hậu qủa của việc ô nhiễm môi trường. Đó là những tác nhân khuyến khích các quốc gia cùng với nhau trong những nỗ lực hợp tác. Để đạt được một tương lai ổn định tại châu Á cần có những chương trình hợp tác mạnh mẽ hơn trong tương lai, cả cấp độ quốc gia, liên vùng và toàn cầu./.








