Nhiễm trùng herpes sơ sinh: Mối nguy hiểm thầm lặng
Nhiễm trùng Herpes simplexvirus (HSV) ở người lớn
Ở người trưởng thành, nhiễm HSV thường không phải là một vấn đề trầm trọng. Phần lớn là nhiễm trùng không triệu chứng và người bệnh chỉ phát hiện được nhờ vào xét nghiệm huyết thanh.
Nhiễm HSV gồm 2 giai đoạn: giai đoạn sơ phát và giai đoạn thứ phát được đặc trưng bởi sự tái phát của các triệu chứng ngoài da:
- Trong giai đoạn sơ phát, virus phát tán mạnh qua đường hô hấp, qua tiếp xúc trực tiếp với tổn thương đang hoạt tính, hoặc tiếp xúc với chất dịch chứa virus như nước bọt, chất tiết ở cổ tử cung của những bệnh nhân không có triệu chứng. Triệu chứng toàn thân có thể thoáng qua, mơ hồ như cảm cúm thông thường làm bệnh nhân không để ý. Sau đó xuất hiện những mụn nước nhỏ mọc thành chùm, ở ngoài da hoặc niêm mạc. Virus nhân lên mạnh mẽ ở các vị trí tổn thương, sau đó đi vào khu trú ở các hạch thần kinh.
- Giai đoạn tái phát thường xuất hiện khi cơ thể có những thay đổi như kinh nguyệt, mệt mỏi, sốt hoặc có những chấn thương ngoài da như phơi bày dưới tia tử ngoại, cọ sát… Trong vòng 12 giờ, một nhóm mụn nước hình thành trên nền da đỏ, tồn tại khoảng 2 – 4 ngày, vỡ ra đóng mài, bong ra và để lại vùng da lành, không có sẹo.
Nhiễm HSV do 2 loại virus gây ra: HSV-1 và HSV-2. HSV-1 thường gây ra những tổn thương ở miệng, HSV-2 thường gây nhiễm trùng vùng sinh dục. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều trường hợp ngược lại, nghĩa là HSV-2 gây nhiễm trùng vùng miệng và HSV-1 thì gây nhiễm trùng vùng sinh dục. Có thể là do quan hệ tình dục đường miệng – sinh dục. Nhiễm HSV vùng sinh dục thì tái phát nhiều hơn vùng miệng.
Đa số người bệnh nhiễm HSV-2 không được chẩn đoán, và có thể không có triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên họ vẫn có thể lây cho người khác qua quan hệ tình dục. Nhiễm HSV giai đoạn sơ phát thì lây nhiều hơn.
Tỷ lệ người nhiễm HSV về mặt huyết thanh, tại Mỹ, HSV-2 có thể dương tính ở 21,9% người trên 12 tuổi. Nghĩa là trong 5 người có 1 người bị nhiễm HSV, có thể có triệu chứng hoặc không có triệu chứng, nhưng vẫn có thể lây cho cộng đồng! Việt Nam hiện nay chưa có điều kiện để làm xét nghiệm tầm soát huyết thanh học HSV.
Càng có nhiều bạn tình, càng có nhiều khả năng nhiễm HSV. Tỷ lệ huyết thanh HSV-2 dương tính ở phụ nữ (25,6%), cao hơn đàn ông (17,8%).
Ở phụ nữ, bên cạnh những tổn thương vùng bẹn - bộ phận sinh dục ngoài, thì tử cung là vị trí thường gặp nhất. Và đây cũng là đường dễ lây nhiễm cho người khác nhất, đặc biệt là lây cho con khi sinh đẻ trong giai đoạn virus được phóng thích ra.
Nhiễm HSV ở trẻ sơ sinh
Bênh tuy hiếm nhưng rất nặng. Có thể tử vong đến 50% nếu không được điều trị kịp thời. Ngoài ra còn để lại nhiều di chứng về thần kinh và mắt.
Những triệu chứng ban đầu có thể là: trẻ bị kích thích, hoặc mê man, sốt, kém bú trong vòng tuần lễ đầu sau sinh. Có thể xuất hiện mụn nước, loét, phát ban dạng sần, chấm xuất huyết… ở da, miệng. Mắt có thể bị viêm kết mạc. Viêm não chiếm khoảng 32% các trường hợp. Sau đó nhiễm trùng lan rộng toàn thân, tấn công nhiều cơ quan gây: viêm gan, viêm phổi, đông máu nội mạch… Sự tiến triển từ lúc xuất hiện thương tổn đầu tiên là mụn nước ngoài da đến nhiễm trùng hệ thống là khoảng vài ngày. Tuy nhiên trong một số trường hợp lại không có biểu hiện ngoài da. Nhiễm trùng HSV ở trẻ sơ sinh rất dễ bị chậm trễ trong chẩn đoán, và điều này làm khó khăn thêm cho quá trình điều trị.
Phòng ngừa
Tiếp xúc với HSV ở vùng sinh dục của người mẹ trong khi sinh chiếm đến 90% các trường hợp nhiễm trùng HSV ở trẻ sơ sinh. Phần lớn sự phóng thích của HSV trong vùng sinh dục thường không đi kèm với triệu chứng, nên không thể phát hiện được người mẹ có nhiễm trùng hay không bằng biện pháp thăm khám lâm sàng.
Nhiễm HSV sơ phát trong thời kỳ mang thai rất nguy hiểm cho trẻ, có thể gây nhiễm trùng HSV ở trẻ sơ sinh, và nhất là gây sẩy thai, sinh non. Nhiễm HSV sơ phát ở người mẹ gây nhiễm HSV sơ sinh nhiều hơn nhiễm HSV tái phát. Điều này có thể do trong giai đoạn này số lượng virus tại đường sinh dục nhiều, thương tổn trợt lở hoặc viêm tại cổ tư cung, người bị nhiễm chưa có kháng thể kháng HSV, và virus đang lưu hành trong máu. Có đến 50% các trường hợp trẻ sơ sinh có mẹ bị nhiễm HSV sơ phát có các triệu chứng của nhiễm trùng HSV so với 1% trẻ có mẹ bị nhiễm HSV trước đó, được phát hiện qua xét nghiệm.
Mặt khác, các đợt nhiễm trùng HSV tái phát trong thai kỳ ít gây nhiễm HSV sơ sinh hơn, chỉ chiếm 3 – 5% các trường hợp.
Nhiều biện pháp phòng ngừa đã được đặt ra. Hội bác sĩ sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) và Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) đề nghị những thai vụ bị nhiễm trùng có triệu chứng trong tháng cuối của thai kỳ cần được điều trị thuốc kháng virus. Đối với các thai phụ có mụn nước ở đường sinh dục cần được mổ lấy thai.
Ngoài ra thai phụ cũng cần xét nghiệm huyết thanh để phát hiện nhiễm HSV.








