Nhân tài và thời cuộc
Nhận ra “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” nên phương Đông sớm hình thành văn hoá di dưỡng người tài rất hữu hiệu. Qua mỗi kỳ thi, sẽ có những tài năng mới bổ sung cho giới quan trường. Không chỉ thế mà còn quy chế “tiến hiền”: các quan lại có nhiệm vụ giới thiệu người hiền tài cho Nhà nước. Bất kể thân sơ, nếu đó là người thực tài thì người giới thiệu được khen thưởng, còn ngược lại thì bị tội. Nếu trong địa phận của mình có người tài mà không được sử dụng, khi phát hiện ra, viên quan có trách nhiệm bị trị tội yếm tài, ngang với tội mưu phản. Trong xã hội quân chủ, vua ở trên hết. Dưới vua là bốn dân: sĩ, nông, công, thương gần như bình đẳng. Mọi người đều có cơ hội thành đạt. Một kẻ áo vải vô danh nào đó, chỉ cần có tài, có chí, sau những năm dùi mài kinh sử, trúng cử trong một khoa thi, lập tức được mang tài năng, đức độ phục vụ xã hội.
Văn hoá phương Đông cũng sáng tạo ra quy chế đánh giá nhân tài trị nước là tài và đức. Đơn giản vì chỉ có hai tiên chí. Và khoa học ở chỗ đặt đức sau tài. Tuy xã hội trọng đức thiên niên chi kế chủng đức (vì kế nghìn năm trồng đức) nhưng trong lĩnh vực chọn người trị dân thì tài phải đứng đầu. Thực tế cho thấy, nếu kém tài thì dù đức lớn cũng chỉ vô dụng như tượng gỗ. Do tiêu chí đơn giản nên dễ thực hiện và hiệu quả chọn lọc cao. Với hai tiêu chí như trên, tỷ lệ người được cử trong số ứng cử viên rất cao, đạt tới tỷ lệ ¼, tức là 25%. Thực tế cho thấy, hệ thống thi cử thời trước đã chọn lọc được nhiều người thực tài. Ngay những khoa thi cuối triều Nguyễn, thường bị chê là “kinh viện, giáo điều, cứng nhắc” nhưng cũng đã cung cấp cho xã hội nhiều vị quan thực họ mà sau này một số học giả người Pháp phải thừa nhận. Không ít người trong số đó có đóng góp tích cực cho Cách mạng.
Trong suốt thời kỳ bao cấp, với hai thành phần kinh tế là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mọi nhân tài chỉ có thể lớn lên duy nhất trong bàn tay của Nhà nước. Nhà nước chọn nhân tài với những tiêu chuẩn: Đảng viên - quần chúng; tài - đức; thành phần cơ bản – không cơ bản; tôn giáo – không tôn giáo; trẻ - già; nam - nữ… Với tiêu chí như vậy, cố nhiên, những người đạt chuẩn sẽ quá ít. Áp dụng công thức 1/n 2, với 12 tiêu chí như ở đây, trong số ứng cử viên, chỉ có 0,69% lọt vào mắt xanh nhà tổ chức. Chính vì vậy, nhân tài được lựa chọn quá ít.
Sang thời Đổi mới, với nhiều thành phần kinh tế, con người được bung ra thi thố tài năng.
Nhà nông thuê khoán ruộng đất lập trang trại, tìm cách quản lý hữu hiệu, sáng tạo những vật nuôi, cây trồng hiệu quả cao. Nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ra đời. Vì mục đích kinh doanh của mình, những ông chủ này buộc phải trọng dụng nhân tài bằng cách trả lương thoả đáng đồng thời tôn trọng nhân phẩm người lao động. Cũng vì lợi ích của mình, nhà kinh doanh có chiến lược “săn đầu người”, tìm nhân tài ngay từ những sinh viên mới vào trường. Những nhà doanh nghiệp vì lợi ích của mình, vô hình trung đã trở thành tiêu chí chọn người tài của các cụ xưa, chỉ đơn giản: tài và đức. Phải nói rằng, đổi mới đã tạo ra cơ hội vàng cho nhân tài nảy nở.
Trong khi xã hội ngoài quốc doanh chuyển biến sôi động như vậy thì ở khu vực ăn lương Nhà nước, việc lựa chọn nhân tài vẫn theo quy chế cũ. Kết quả là, chúng ta có một hệ thống hành chính thiếu hiệu năng cùng hệ thống kinh doanh kém hiệu quả, tỷ lệ sinh lời của đồng vốn thấp đến thảm hại. Đồng lương thấp, ít được tôn trọng, cơ hội thành đạt không minh bạch… dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức công chức. Một dòng chuyển dịch nhân lực “ngược” đã hình thành: sinh viên ra trường không chịu vào cơ quan Nhà nước. Nhiều công chức giữ trọng trách trong bộ máy công quyền bỏ cơ quan ra lập công ty hay làm chuyên viên cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Điều này có mặt tích cực là giải phóng được tài năng của nhiều người từng bị trói buộc và góp phần nâng cao nhân cách con người Việt Nam . Mặt tiêu cực của nó là làm suy yếu khu vực công quyền, một lĩnh vực có vai trò rất lớn về xã hội và kinh tế.
Nhân tài nếu cần cho xã hội nói chung thì càng cần trong lĩnh vực công quyền vì nó có vai trò quyết định tới con tàu xã hội. Một tài năng đều quý giá nhưng có lẽ quan trọng hơn là tài năng quản lý, lãnh đạo. Nếu những tài năng chuyên môn khác là những tay đàn tuyệt vời trong dàn nhạc thì tài năng quản lý và lãnh đạo bao giờ cũng là nhạc trưởng. Từ ông chủ tịch phường, quận, tới lãnh đạo các địa phương, các ngành, lãnh đạo quốc gia… Có vai trò quyết định đến sự hưng vong của đất nước.
Điều đáng tiếc và đáng lo là do một công nghệ chọn lọc nhân tài chưa phù hợp, chúng ta chưa chọn được nhân tài trong lĩnh vực vô cùng quan trọng này. Nói một cách công bằng, chúng ta nhiều quan chức nhưng chưa có chính khách.
Trước đây, trong bối cảnh bế quan, cấm vận, tổng sản phẩm xã hội chỉ chừng hơn chục tỷ đô, Nhà nước đã làm xong cái việc đơn giản là phân phối số tài sản ít ỏi đó. Bây giờ, tài sản quốc gia lớn hơn nhiều, đất nước mở cửa trong toàn cầu hoá với những mối quan hệ rằng rịt, đồng tiền quay đến ngỡ ngàng, phải đối mặt với bao mánh khoé lừa đảo… đôi lúc chúng ta tỏ ra đuối sức trong cuộc chơi này. Những bất cập trong chiến lược đầu tư, trong bảo vệ môi trường, trong điều hành ngân hàng tài chính.. đã gây những hậu quả mà người dân phải gánh chịu.
Một câu hỏi phải được trả lời: vì sao đất nước ngày càng có nhiều người tài trong các hoạt động khác lại thiếu hụt người tài trong lĩnh vực quan trọng nhất là quản lý quốc gia?








