Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/04/2008 00:45 (GMT+7)

Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Nà Hang (Tuyên Quang)

Tập quán canh tác chủ yếu là trồng lúa nước, do vậy người Tày thường định cư ở những vùng thung lũng trước núi, gần sông, suối để tiện nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, gần đồng ruộng để tiện chăm sóc cây trồng, đồng thời cũng không xa rừng để khai thác nguồn lâm sản. Ngoài việc chú ý đến sự tiện lợi cho sinh hoạt, những nghi lễ liên quan đến việc chọn đất làm nhà cũng hết sức được coi trọng. Công việc này thường được các thầy cúng đảm nhận bao gồm cả việc xác định hướng nhà và ngày giờ để dựng nhà cùng các nghi lễ liên quan để xin phép thổ công cho gia chủ được phép dựng nhà.

Nhà của người Tày ở Nà Hang thường là những ngôi nhà sàn độc lập, có khuôn viên bao bọc xung quanh bằng rào nứa đan thành phên buộc vào cọc tre hay dùng những đoạn nứa cắm sát vào nhau, cũng có nhà trồng một số loại cây, hoa làm hàng rào. Sát cạnh khuôn viên nhà lại có một mảnh vườn nhỏ trồng các loại rau xanh, bầu bí, cây gia vị, cây thuốc, cũng dùng nứa cây rào dậu cẩn thận để tránh gia súc, gia cầm trong nhà phá hoại.Nhiều nhà còn có ao thả cá, xung quanh nhà trồng các loại cây ăn quả như mận, hồng, lê, táo...

Gầm sàn mở ra không gian xung quanh, được sử dụng để buộc trâu bò, quây chuồng lợn, chuồng gà, chứa củi, đặt cối giã gạo, để quạt hòm, cối xay, cối giã, để cày bừa và các loại nông cụ, xe đạp, xe máy.

Nhà của người Tày ở Nà Hang có bố cục mặt bằng hình chữ nhật, hai đầu hồi còn được mở rộng, kéo dài thêm bằng những sàn phơi, sàn rửa. Diện tích trung bình 150 - 200m2, chiều cao trung bình 7 - 9m tính từ nền lên đến nóc. Phổ biến là loại nhà kiểu 4 gian 2 chái có chiều dài khoảng 18 - 20m, rộng khoảng 8 - 10m. Nhà có hai mái chính có độ dốc vừa phải, mái trước và mái sau bằng nhau hợp thành một hình tam giác cân, khác với kiểu nhà 7 hàng cột ở vùng Chiêm Hóa có mái sau dài hơn mái trước do có thêm một hàng cột ở phía sau. Phía hai đầu nhà còn có hai mái phụ để che mưa nắng cho phần hiên, cầu thang phía trước và phần sàn rửa, cầu thang phía sau. Hai mái phụ này không gặp nhau với mái chính ở bờ nóc mà được làm thấp hơn, ở phía dưới mái chính, những rui mè liên kết với nhau bằng cách buộc với một thân vầu, hay gỗ đặt cao hơn vị trí câu đầu của bộ vì nóc đầu tiên và cuối cùng một chút. Nhìn bên ngoài vẫn thấy đây là một ngôi nhà 4 mái cân xứng. Vật liệu lợp mái là lá cọ rất sẵn ở những rừng cọ trong vùng, cách lợp cũng như hầu hết ở các nơi khác: tách tàu lá cọ làm 2 mắc lên thanh mè, cứ mỗi hàng mè lại trở mặt xếp từ phải qua trái rồi đến từ trái qua phải. Do nguồn lá cọ tại địa phương sẵn có nên mái được lợp rất dày, bền chắc.

Kết cấu khung nhà sàn của người Tày ở Nà Hang tương đối thống nhất về tổng thể nhưng rất phong phú về chi tiết ở phần kết cấu vì nóc. Hầu hết là loại vì kèo 4 hàng cột, gồm 2 kèo, 2 cột cái, 2 cột quân. Cũng có loại nhà theo kiểu 6 hàng cột, thêm 2 hàng cột hiên. Các cột được liên kết với nhau bằng câu đầu, thanh ngang, các bộ vì liên kết với nhau bằng thanh xuyên dọc. Kết cấu vì nóc đơn giản nhất chỉ gồm một thân cột đỡ chỏm kèo đứng chân lên một thanh ngang liên kết hai đầu cột cái. Kết cấu phức tạp hơn được làm như kiểu vì nóc giá chiêng của người Việt: cột trốn đỡ chỏm kèo đứng chân trên một thanh ngang ngắn, thanh ngang này liên kết hai cột trốn khác đỡ kèo ở vị trí hoành mái hai bên lại đứng chân lên một thanh ngang dài liên kết hai cột cái. Kiểu kết cấu này khiến cho lòng nhà được mở rộng. Hai bộ vì ở hai đầu hồi nhà thường được đan phên che chắn hay bưng ván trổ thủng thành những hình hoa văn, những bộ vì trong nhà được để trống giữa các gian. Hệ thống cột này xuyên suốt từ mặt nền lên đến tận mái, các cột thường được kê trên những chân tảng bằng đá, chân tảng thường không có hình dạng nhất định mà phụ thuộc vào hình dáng của những tảng đá trong tự nhiên. Ở Nà Hang hiện vẫn còn bảo lưu những nhà sàn có hệ thống cột được chôn xuống nền đất, nhiều cột bị ẩm, mục, đã đứt hẳn chân nên phải kê lại bằng đá tảng, bằng gỗ hay bất cứ vật liệu gì mà chủ nhà có thể kiếm được. Điều đó chứng minh những nhà sàn truyền thống trước kia có kiểu chân cột được chôn xuống đất, nhưng những ngôi nhà được dựng trong khoảng 20 - 30 năm trở lại đây đều có kiểu chân cột kê đá tảng nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ của các chân cột bằng các loại gỗ đang dần ngày một hiếm đi.

Nguyên liệu dùng để làm khung nhà thường là những loại gỗ sẵn có tại địa phương, phổ biến là gỗ trò, trâm, nghiến, có khi cũng dùng cả thân vầu, tre, diễn, gỗ cọ để làm những chi tiết phụ. Trước đây, khi dựng nhà, để làm bộ khung, đồng bào thường phải mất từ 1 đến 3 năm để đi tìm gỗ trên rừng, tìm được một cây gỗ ưng ý đốn xuống rồi cho trâu kéo về vứt ở ngoài trời mưa nắng, đến khi đủ gỗ dựng nhà thì những cây gỗ này cũng đã tương đối khô, những cây nào bị mối mọt thì bỏ luôn không dùng. Sau khi kiếm gần đủ nguyên liệu là đã có thể dựng nhà, nếu thiếu có thể vay mượn thêm của bà con trong bản. Nguyên liệu lá cọ lợp mái cũng thường được khai thác ở những rừng cọ gần nhà, ai làm nhà hay sửa nhà thì được ưu tiên khai thác lá cọ, người khác không được lấy.

Thợ dựng nhà của người Tày ở Nà Hang thường ở ngay trong bản và là những người biết kĩ thuật dựng nhà chứ không phải là thợ chuyên nghiệp, những người này bình thường vẫn làm công việc nông nghiệp khác, khi có người dựng nhà mới thì được mời đến và cũng được trả công để đảm nhiệm những công việc chủ yếu, còn lại các công việc khác do mọi người trong bản cùng đến giúp, ai biết việc gì thì giúp việc ấy, ngoài việc giúp công, bà con còn giúp nhau cả về nguyên liệu dựng nhà, tiền, gạo... Về kĩ thuật xây dựng, chủ yếu sử dụng các kĩ thuật đẽo, bào, đục mộng, chốt, buộc, néo... Theo tập quán, khi dựng nhà người ta xếp hết các vì liên kết theo hàng ngang các cột trước rồi mới dựng các bộ vì lên để chia thành gian, bộ vì xếp đầu tiên bao giờ cũng được dựng lên cuối cùng và bộ vì xếp cuối cùng (vì thứ 5) lại được dựng lên đầu tiên.

Nhà của người Tày ở Nà Hang cũng như ở một số nơi khác, có các mặt xung quanh được che bằng liếp hoặc bưng bằng ván. Trước đây chủ yếu là sử dụng nứa đan thành liếp, hoặc đầu tiên khi mới dựng nhà dùng liếp, ở một thời gian, khi có điều kiện mới thay dần các tấm liếp bằng ván gỗ. Tuy vậy, xung quanh nhà vẫn để rất nhiều cửa sổ bằng những tấm liếp được chống lên vào mùa hè và đóng lại khi trời lạnh, do vậy những ngôi nhà này thường rất sáng sủa, thoáng mát. Gần đây đồng bào ưa làm loại cửa sổ bằng ván gỗ hai cánh có ổ quay và then cài cũng bằng gỗ có thể đóng mở dễ dàng. Những cửa sổ này cũng được chắn bằng những loại chấn song đơn giản bằng những đoạn tre, vầu hay gỗ được đẽo gọt tạo thành hoa văn trang trí. Đầu hồi phía sau thường được bưng kín, chỉ có một cửa duy nhất đi ra phía cầu thang phụ. Trong nhà rất ít khi được ngăn thành các buồng nhỏ, nếu có cũng chỉ có khoảng 1 - 2 buồng dành cho con gái, con dâu.

Mặt sàn cách nền đất phía dưới khoảng trên dưới 2 m, nền đất thường được đầm kĩ. Sàn nhà được làm bằng các loại mai, vầu được đập dập, chẻ nhỏ lát theo chiều ngang nhà và khi hỏng đâu được sửa, thay đến đấy rất dễ dàng, nhanh chóng. Cũng giống như hệ thống vách tường bao quanh nhà, mặt sàn cũng được lát cả bằng ván gỗ theo chiều ngang nhà hoặc khi mới làm nhà thì lát theo kiểu trên, qua một thời gian gia chủ có điều kiện kinh tế thì dần được thay bằng ván gỗ.

Sàn phơi và sàn rửa cùng một mặt bằng với sàn nhà nhưng có tính chất như một công trình phụ gá vào với tòa nhà chính, hệ thống cột chống phía dưới sàn không có liên kết gì với nhà chính, thường được dùng những đoạn cây nhỏ dễ kiếm hay nguyên vật liệu thừa trong quá trình làm nhà, cách bố trí các cột cũng không theo quy luật nào, chỗ nào yếu thì chống thêm cột, phía dưới các sàn này không sử dụng để chứa gì. Thực tế sử dụng chỉ một thời gian dưới trời mưa nắng, hay thường xuyên bị dội nước, những sàn phơi, sàn rửa này thường nhanh chónh bị hỏng phải gia cố thêm hoặc làm mới.

Bố trí không gian sử dụng trong ngôi nhà của người Tày ở Nà Hang cũng có điểm khác biệt so với một số địa phương khác: Trước nhà đối diện với cầu thang thường là một máng nước bằng gỗ, thân vầu hoặc bằng đá dùng để dựng nước rửa chân trước khi lên nhà. Cầu thang lên nhà bằng gỗ thường gồm 9 bậc, có một số ít nhà làm 7 bậc, không có tay vịn. Lên hết cầu thang tới một hiên rộng nhìn ra phía trước nhà. Toàn bộ phần này nằm ở phía dưới mái phụ phía đầu hồi để tránh mưa nắng. Qua hiên vào cửa chính của nhà ở phía đầu hồi phía trước, cánh cửa thường được làm bằng liếp hay gỗ tấm có hai cánh. Gian thứ nhất là gian khách, khách đến chơi nhà hoặc ngủ lại chỉ có thể ở phần không gian này. Gian thứ hai có đặt bàn thờ tổ tiên trên gác xép (phần không gian sát mái đua ra), phía dưới hai bên đều có kê sập, bếp giành cho khách có thể ở ngay gian thứ nhất hoặc gian thứ hai. Bàn thờ bao giờ cũng đặt ở phía đối diện chéo góc với cửa chính ra vào, nếu cửa ở bên trái thì bàn thờ ở bên phải gian thứ hai và ngược lại, cách bài trí bàn thờ cũng khá đơn giản chỉ gồm: bát hương, đèn, đĩa đựng hoa quả, chai rượu. Ông chủ nhà nếu lớn tuổi cũng thường ở gian thứ hai này ngay phía dưới bàn thờ để tiện hương khói, tiếp khách. Gian thứ 3 thường có một đố ngăn cách với gian thứ hai là nơi dành cho chủ nhà hoặc vợ chủ nhà, cũng ở gian này giữa nhà là bếp của gia đình, chạn bát, phía sau nhà ở gian này có thể mở thêm ra một sàn rửa để rửa bát đũa, đồ ăn. Phía trên bếp gia đình có gác bếp hai tầng dùng để xông khói một số loại thực phẩm hoặc những đồ đan lát nhằm mục đích bảo quản, gác bếp được treo lên bằng những đoạn tre gác giữa các vì kèo. Gian thứ tư là nơi dành cho các con, cũng có gia đình sử dụng 1 bên để lương thực, chạn bát hoặc nơi rửa bát. Đầu hồi phía sau thường là một chái có cửa mở ra cầu thang phụ, sàn rửa, nơi rửa ráy, tắm giặt, nơi đại tiểu tiện xuống chuồng lợn phía dưới. Có gia đình dùng không gian ở phần chái này làm bếp để tiện việc rửa ráy, nấu nướng, chăm sóc lợn gà.

Những nghi lễ liên quan đến quá trình dựng nhà của người Tày ở Nà Hang, ngoài việc xem hướng, xem ngày giờ, như đã nói, quan trọng nhất khi bắt đầu tiến hành dựng nhà phải có nghi thức xin một lá bùa trấn trạch (gọi là "Biên"). Bùa này là một tấm vải đỏ kích thước khoảng  30 - 40cm do các thầy cúng sau những nghi lễ viết, trên đó dùng chữ Hán: Sắc lệnh, Khương Thái Công tại thử... niên ... nguyệt ... nhật, có nơi ghi thêm chữ  Phúc như Đông Hải, thọ tỉ Nam Sơn,lễ để xin lá bùa này dứt khoát phải có 12 chiếc bánh dày, thịt lợn. Khi dựng vì kèo lên thì lấy bùa dán lên câu đầu để cho ngôi nhà có sinh khí và vững bền. Sau khi nhà đã dựng xong cũng phải có những nghi lễ thì mới được phép ở, hôm về nhà mới, người chồng đi trước tay cầm một bó đuốc để xua đuổi tà ma, vợ tay cầm chạc trâu, gánh vài cum lúa và một ống nứa đựng nước. Khi vào nhà hai vợ chồng khấn thổ công, thổ thần xin cho được tạm trú. Lúc đó trong nhà đã có một vị già làng, trưởng bản đứng đợi sẵn lên tiếng trả lời đồng ý cho vào ở (giả làm tiếng thổ thần).

Nà Hang (Tuyên Quang) là một trong số ít nơi còn bảo lưu được những nét độc đáo trong kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tày, thể hiện qua kết cấu, kỹ thuật, nguyên vật liệu cũng như mặt bằng, bố trí nội, ngoại thất. Những di sản kiến trúc này nằm trong một tổng thể những yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường và những sinh hoạt vật chất cũng như văn hóa tinh thần. Điều đó tạo nên những nét đặc sắc của văn hóa tộc người.

Nhưng cũng như nhiều địa phương khác, di sản kiến trúc ở đây cũng đang chịu ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ từ nhiều phía: nguồn nguyên, vật liệu đang cạn kiệt dần, cảnh quan môi trường tự nhiên và văn hóa thay đổi, đặc biệt dự án thủy điện Nà Hang đang được tiến hành sẽ làm ngập một vùng rộng trong đó có những ngôi nhà sàn này. Trong đó cũng phải kể đến cả tâm lý của một bộ phận lớp người trẻ tuổi, có xu hướng không thích ở trong những ngôi nhà sàn truyền thống, mà chuyển sang ở nhà đất, nhà xây. Do vậy, di sản kiến trúc này cũng đang đứng trước những nguy cơ, thách thức, cần có những giải pháp bảo tồn, phát huy.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.