Nguy cơ tận diệt các vùng đất ngập nước trong lưu vực sông Mê Kông
Sự di chuyển của nước và đa dạng sinh học trong lưu vực tạo ra sự phong phú của dòng sông Mê kông. Nước của sông Mê kông là do tuyết tan từ các đỉnh núi ở cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc và nước mưa rơi trên lưu vực của sáu quốc gia. Tuy nhiên, nước do tuyết tan chỉ đóng góp tối đa 18% vào dòng nước chảy, phần còn lại là do nước mưa. Nước mưa rơi trên lưu vực rồi chảy len lỏi qua những khe núi hay cánh rừng và góp lại thành dòng, nhỏ thì như các khe suối hay lớn hơn như những dòng sông. Ban đầu chúng chảy vào các vùng trũng tạo nên các vùng đất ngập nước theo mùa hay quanh năm, như Biển Hồ ở Campuchia hay các sông rạch ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam . Vào mùa khô, dưới ánh nắng mặt trời, nước bốc hơi lên cao và tích tụ thành những đám mây. Nhờ các cơn gió mùa, mây bay vào đất liền và rơi xuống thành mưa hay tuyết trên các đỉnh núi cao, hoàn tất một vòng tuần hoàn của nước.
Bắt đầu mùa mưa, khi lượng nước trên dòng sông Mê kông tăng, làm diện tích mặt nước của Biển Hồ tăng lên gấp 4 lần, tạo nên sự chênh lệch về mực nước giữa mùa khô và mùa mưa, khoảng 10m. Khi lượng nước trên dòng sông Mê kông giảm thì nước từ Biển Hồ cung cấp ngược trở lại, điều hòa dòng chảy suốt năm.
Trên lưu vực thuộc lãnh thổ của Lào, có hàng ngàn vùng đất ngập nước, từ vài hecta đến hàng trăm ngàn hecta. Những vùng đất ngập nước tích nước vào mùa mưa và cung cấp dần dần cho dòng sông Mê kông vào mùa khô, chúng đóng góp đến 35% dòng chảy của sông Mê kông. Điều quan trọng là thảm thực vật xung quanh các vùng đất ngập nước này rất phong phú, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ nước và đặc biệt là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho các dòng sông. Ngoài ra, sự thay đổi liên tục của hai bên dòng sông cũng tạo ra những vùng đất mới. Vì vậy, mọi thay đổi liên quan đến thể tích, chất lượng và thời gian chảy của của nước trên sông Mê kông đều có ảnh hưởng đến sự tồn tại của hơn 70 triệu người đang sinh sống trong khu vực của sông Mê kông.
Áp lực lớn nhất hiện nay đối với hệ thống lưu vực sông Mê kông là sự thay đổi hệ sinh thái, khai thác quá mức, ô nhiễm, xâm lấn của loài ngoại lai và biến đổi khí hậu toàn cầu. Những thay đổi về hệ sinh thái diễn ra chậm đối với Trung Quốc và Miến Điện, do nơi đây chủ yếu là núi dốc và không có rừng. Trong khi đó tại lưu vực sông của Thái Lan và Việt Nam , hệ sinh thái tự nhiên đã bị biến dạng. Tại Thái Lan chỉ còn lại các cánh rừng thưa xen lẫn với đất nông nghiệp, còn các vùng đất ngập nước đã bị chuyển sang đất nông nghiệp hay biến thành hồ trữ nước phục vụ nông nghiệp và khu dân cư. Tại Việt Nam , các rừng Tràm và các vùng đất ngập nước theo mùa đã biến thành ruộng lúa cách nay hàng thế kỷ; các cánh rừng ngập mặn đã biến thành vuông tôm trong hai thập niên vừa qua. Những vùng đất ngập nước đặc trưng vào mùa mưa như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên đã trở thành ruộng lúa do đê bao khép kín, ngăn chặn hoàn toàn nguồn nước sông Mê kông đến. Vì vậy, vào mùa khô chức năng cung cấp nước và dinh dưỡng cho dòng sông Mê kông hiện nay hoàn toàn lệ thuộc vào diện tích rừng và các vùng đất ngập nước còn lại trên lãnh thổ của Lào và Campuchia. Tuy nhiên, hai quốc gia này cũng đang chuyển đổi các cánh rừng tự nhiên thành đất trồng cây cao su và cà phê. Các vùng đất ngập nước tại đây dần chuyển thành nơi canh tác lúa nước.
Bên cạnh đó, việc khai thác thủy điện đang trở thành vấn đề nổi cộm nhất hiện nay. Trên lãnh thổ Trung Quốc, tất cả các nhánh đổ vào sông Mê kông đã được xây đập từ lâu chủ yếu là khai thác thủy điện nhỏ và phục vụ tưới tiêu nông nghiệp. Riêng trên dòng sông Mê kông, đã có 03 đập được đưa vào sử dụng và đang có kế hoạch xây thêm 08 cái mới. Trên lãnh thổ Thái Lan, các nhánh sông nhỏ cũng đã bị chặn dòng để khai thác nông nghiệp và những nhánh sông chính đổ vào sông Mê kông cũng đã có đập thủy điện. Trên lãnh thổ Việt Nam , ở lưu vực thuộc miền Trung, cũng gần như không còn dòng chảy vào sông Mê kông do thủy điện hay hồ chứa nước đã xây từ những năm trước. Trên đất Lào, các nhánh chính đã có thủy điện và Lào và Campuchia đang có kế hoạch xây các đập thủy điện loại rất lớn trên dòng chính trong nay mai. Loại khai thác quá mức nguồn cá bằng các phương tiện đánh bắt hủy diệt cũng đang trở thành vấn đề làm hủy hoại hệ sinh thái tại đây.
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước do hoạt động của các khu công nghiệp, các cụm dân cư, các thành phố của tất cả các quốc gia trong lưu vực sông Mê kông cũng trở thành thách thức đáng kể. Do các quốc gia này không xây dựng được các hệ thống thu gom và xử lý chất thải, nên toàn bộ chất thải đều xả xuống dòng sông. Trong mùa khô, lưu lượng nước của dòng sông giảm, là lúc nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng nhất . Ô nhiễm còn do dư lượng của chất hóa học từ canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản của các quốc gia vùng hạ lưu sông Mê kông đổ vào dòng sông.
Đe dọa từ loài ngoại lai trong lưu vực đáng cảnh báo nhất là Mai dương, ốc bươu vàng và Cá lau kiếng. Cả ba loài này xuất hiện rộng khắp trong các vùng đất ngập nước của các nước hạ lưu sông Mê kông, với mức độ nghiêm trọng khác nhau đã làm cho tính đa dạng của dòng sông Mê kông giảm rất đáng kể.
Một mối nguy cơ khác là tác động của việc biến đổi khí hậu toàn cầu. Dự báo nhiệt độ trong khu vực sông Mê kông sẽ tăng từ 2 – 5°C trong thế kỷ 21 sẽ làm cho diện tích rừng che phủ giảm, lượng nước bốc hơi vào mùa khô sẽ tăng, dẫn đến khả năng mất nước nhanh chóng của các vùng đất ngập nước hiếm hoi còn lại trong khu vực. Điều này đang là áp lực rất lớn đối với dòng chảy sông Mê kông và ảnh hưởng trầm trọng đối với các quốc gia đang hưởng ích lợi của dòng sông; trong đó đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam sẽ là nơi bị ảnh hưởng nặng nhất do tác động kép của việc thiếu nguồn nước ngọt từ sông Mê kông và mực nước biển dâng cao.
Những thách thức và tồn tại này đối với các vùng rừng ngập mặn thuộc lưu vực sông Mê kông sẽ tác động trực tiếp tới môi trường cảnh quan sinh thái và an ninh lương thực của toàn khu vực. Trong đó, nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên sẽ làm cho hơn 18 triệu dân sống dựa vào vùng đất ngập nước rơi vào cảnh lao đao, ảnh hưởng đến an ninh – chính trị và những bất đồng xã hội.








