Nguồn sức mạnh bất tận
Ông cha ta đã từng biết cách làm như vậy để vượt qua những thử thách tưởng chừng không vượt qua được, và đó cũng là bài học Việt Nam, một giải pháp cho Việt Nam .
Cứ mỗi lần có dịp qua vùng Quế Võ, Bắc Ninh, khi đi vào quãng đường quen thuộc, tôi không sao kìm được nỗi khát khao thôi thúc phải hạ kính chắn gió, nhào người ra khỏi cửa xe, khẩn khoản nhắc lái xe chạy thật chậm, để cố nhìn kỹ, cố đếm lại những “lốt chân ngựa Thánh Gióng”. Mà nào có xa xôi, lạ lẫm gì. Năm nào tôi chẳng có dịp qua đây. Cũng không chỉ một lần, mà vài ba lần. Thế nhưng, như một phản xạ vô thức, cứ vào quãng đường này, trong khung trời bảng lảng ấy, với những mảnh ruộng nhấp nhô gần gũi kia, tôi lại bồi hồi nhìn đếm những khoảnh ao nho nhỏ nằm giữa những mảnh ruộng, trải dài tít tắp đến tận chân núi xa mờ quá đỗi thân quen kia.
Vùng Kinh Bắc là đất của huyền thoại, cái nôi của văn hóa. Không đợi phải có cái tài hoa của nhà thơ nọ đã làm sáng lên “hồn dân tộc cháy bừng trên giấy điệp” trong nét vẽ của “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” mới tạo ra sự hấp dẫn kia. Nhưng quả thật, chất tài hoa kia đã khơi gợi sự liên tưởng giúp gọi dậy cảm thức muốn được sống lại trong những hoài niệm, muốn được thăng hoa từ những dấu ấn của huyền thoại đang hiển hiện sống động đến lạ lùng kia. Để làm gì? Để cảm nhận cái “hồn dân tộc” vừa xa xôi trừu tượng, vừa thật gần gũi sâu lắng, đặng lưu giữ và làm ấm sáng mãi niềm tin vào nguồn mạch vô tận của sức mạnh văn hóa dân tộc, cội nguồn đã làm nên Việt Nam hôm nay. Huyền thoại ư? Không! Đấy là tâm thức của dân tộc, là khát vọng sống, là ý chí Việt Nam . Hãy tin vào huyền thoại.
Không tin vào cái đó thì tin cái gì bây giờ. Mà không tin thì làm sao sống?
Tin tưởng và trung thành với dân tộc, với sự nghiệp của ông cha, đó là sự tin tưởng, sự trung thành sâu nặng nhất, bền vững nhất, là đạo lý muôn đời của truyền thống Việt Nam , một đất nước “vốn xưng văn hiến đã lâu”. Chính nhờ đó mà “hào kiệt đời nào cũng có”. Hào kiệt được gọi dậy từ những lốt chân của Thánh Gióng. Cậu bé làng Phù Đổng bay về trời nhưng vẫn để lại những dấu chân ngựa, với những bụi tre đằng ngà, tên gọi loại tre xanh đã bị cháy sém để ngả sang màu ngà trong ngọn lửa ngựa thần phun ra đốt cháy lũ giặc ngoại xâm. Phải nhìn cho thấy những khoảnh ao nho nhỏ nằm trải dài giữa cánh đồng Quế Võ, Bắc Ninh kia đích thị là những lốt chân của ngựa thần Thánh Gióng.
Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam , cụ Nguyễn Đổng Chi còn ghi rành rẽ: “Ngày nay chúng ta còn thấy dấu vết những dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy còn mang cái tên là làng Cháy”. Cũng như thế, phải hiểu được, tin được và cảm nhận được cho sâu câu chuyện truyền thuyết về 99 ngọn đồi và thêm 1 ngọn đồi để chẵn một trăm, ở vùng đất của Đền Hùng, Phú Thọ. Một ngọn đồi nằm lẻ loi cách dãy đồi nhấp nhô phía xa kia, mà ông cha ta truyền kể cho con cháu, đó là con voi bị chặt đầu vì tội lìa đàn, quay đổi hướng. Thật dữ dội của hình phạt về sự phản bội, và cũng thật hoành tráng cái tỷ lệ 1/100 ngọn đồi-con voi.
Ông cha mình gửi gắm lời răn thật nghiêm khắc, tạc vào núi để nhắc nhở con cháu phải biết cách giữ nước. Đúng, tạc vào đất nước, hằn dấu ấn của bản lĩnh quật cường trên từng cánh đồng, dưới mỗi mái nhà tranh, trong những ngôi đền cổ, để lắng đọng sâu kín trong đời sống tâm linh, trong tâm tưởng nghĩa tình dân tộc. Trên đất nước ta, “Hình khe, thế núi gần xa. Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao”, đâu đâu cũng hằn sâu dấu ấn những truyền thuyết lịch sử, những thăng hoa khát vọng sống và ý chí quật cường trong huyền thoại. Đó là văn hóa, là cốt lõi của văn hóa dân tộc.
Hồn dân tộc ẩn chứa trong cái hình hài văn hóa ấy. Để mất cái đó là mất nguồn mạch sống của dân tộc. Khi tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu, càng phải biết nuôi dưỡng cái nguồn mạch ấy để từ đó mà đến với thế giới. Thử hỏi, không từ bản lĩnh văn hóa dân tộc, bản lĩnh Việt Nam ấy thì có cái gì mà đến với thế giới? Chẳng lẽ cứ đào bới mãi tài nguyên từ lòng đất ông cha từng gìn giữ bằng máu xương của biết bao thế hệ để đem bán? Hay đến với thế giới bằng giá nhân công rẻ mạt của người lao động nghèo vốn không được học hành vì cha anh họ phải cầm súng thay vì cầm bút? Chẳng lẽ cái lôgô của “thương hiệu Việt” là cục than đá, thùng dầu thô và cái lưng trần dầu dãi nắng mưa của người nông dân vừa rời quê ra tỉnh để bán sức lao động rẻ mạt?
Ấy vậy mà văn hóa không phải bao giờ cũng tỷ lệ thuận với những chỉ số phát triển kinh tế. Đành rằng có thực mới vực được đạo! Nhưng, cốt cách văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc không có được bao nhiêu ở nhịp sống hối hả trong bươn chải vì cuộc mưu sinh và vội vã hưởng thụ nơi phồn hoa đô hội kia. Nó thường tiềm ẩn sâu kín ở chốn “thôn cùng xóm vắng” nơi Nguyễn Trãi mong “sao cho không có tiếng kêu than hờn giận oán sầu để giữ được cái gốc của nhạc [tức là văn hóa]”. Nhờ vậy mới ấp ủ và giữ gìn được văn hóa dân tộc trước âm mưu tận diệt văn hóa của các thế lực ngoại xâm. Tận diệt theo kiểu “hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh, một chữ chớ để còn… các bia do Trung Quốc dựng thì để lại, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả”. Đó là chỉ dụ của Minh Thành Tổ gửi tướng viễn chinh Chu Năng, căn dặn binh lính xâm lược khi vào chiếm nước ta ở thế kỷ XV. Rành rọt đến như thế, cụ thể và triệt để đến như thế! Người ta hiểu rằng, muốn khuất phục dân tộc bướng bỉnh và kiên cường, quật khởi này thì phải hủy diệt văn hóa. Mà cũng chính vì thế, giữ được văn hóa dân tộc chính là giữ được cái gốc của nước để có thể mãi mãi tự hào mà nói được rằng: “Nước chúng ta, nước những người không bao giờ khuất. Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất. Những buổi ngày xưa vọng nói về”.
Đó là tiếng vọng của ông cha, hồn thiêng của sông núi. Tiếng vọng có phần trừu tượng ấy, may thay đã nói thành lời trong những di tích vừa được ngành khảo cổ học Việt Nam tìn thấy. Thì đây, “nỏ thần Kim Quy” trong huyền thoại An Dương Vương xây thành Cổ Loa, và truyền thuyết về cái chết của Mỵ Châu – Trọng Thủy được hiện diện trong mũi tên ba ngạnh mà giới khảo cổ vừa tìm thấy trong cuộc khai quật mới đây ở thành Cổ Loa, Hà Nội. Và nhất là sự kiện phát lộ khu di tích Hoàng thành mà ý nghĩa của nó vượt quá mọi tầm dự báo.
“Trên thế giới có nhiều di tích cố đô nổi tiếng như Fono Romano (Ý), Trường An (Trung Quốc) hay Heijo-Kyo (Nara-Nhật), tất cả đều được thừa nhận như di sản văn hóa chung của nhân loại và xếp vào hàng di sản thế giới. Giờ đây có một di tích có giá trị tương đồng và còn hay hơn các di tích cố đô trên - đó là Hoàng thành Thăng Long. Bởi vì khu di tích này nằm ngay giữa lòng đất của đô thị lớn, hiện đại, lại có rất nhiều tầng văn hóa chồng lấp lên nhau”, lời đánh giá đó của các chuyên gia về khảo cổ và bảo tồn đến từ nhiều nước Ý, Pháp, Na Uy, Nhật có sức cổ vũ, động viên rất lớn đến mỗi một người Việt Nam chúng ta. “Di tích này xứng đáng là niềm tự hào về lịch sử của đất nước Việt Nam và cũng sẽ trở thành một biểu tượng về sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội quốc tế trong thế kỷ XXI” như đánh giá của một chuyên gia quốc tế. Đây là “một sự gặp gỡ kỳ lạ của các thế hệ cha ông với đương thời”.
Xâm phạm hay làm tổn hại đến di tích lịch sử vô giá này, làm tổn thương đến “sự gặp gỡ kỳ lạ của các thế hệ cha ông với đương thời” ấy, thì có thể mượn lời của vua Lê Thánh Tông trong lời dụ Thái bảo Lê Cảnh Huy được chép rành rẽ trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Kỷ nhà Lê, “thì phải tội tru di”. Bảo vệ sự toàn vẹn của khu di tích Hoàng thành, biết cách phát huy thành tựu mà các nhà khoa học đã có công phát lộ di tích, góp phần làm bừng dậy niềm tự hào dân tộc, sức mạnh kỳ diệu vốn tiềm ẩn trong con tim mỗi người Việt Nam, biến nó thành động lực lớn lao của sự nghiệp phát triển đất nước khi mà tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu là một đòi hỏi của lịch sử. Đó cũng là một nhu cầu bức xúc của một người Việt Nam yêu nước có trái tim đập cùng nhịp đập của dân tộc trong giai đoạn lịch sử mới. Hà Nội đã có đồng hồ đếm ngược dòng để nhắc nhở từng ngày tiến đến kỷ niệm “Nghìn năm Thăng Long” đã gần kề, nhịp đập của trái tim đất nước đang gợi dậy ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước, sức mạnh bất tận của mỗi một người Việt Nam.
Tinh thần yêu nước ấy không hề và không bao giờ là sản phẩm độc quyền của bất cứ một ai. Điều này thì Bác Hồ đã từng căn dặn: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày”. Những hành động biểu thị tinh thần yêu nước ấy dưới bất cứ hình thức nào, ở bất cứ biểu hiện nào, nhất là trong thế hệ trẻ, đều cần được nâng niu, trân trọng và phát huy, vì đó là “bổn phận của chúng ta” như lời căn dặn của Bác Hồ.
Một xã hội chỉ biết có giá trị vật chất không thể là nơi con người có thể tìm thấy hạnh phúc. Có thể bằng lòng với những con số GDP 2007 và những chỉ số khác đều phá kỷ lục, đồng thời phải biết đau nỗi đau của sự xuống cấp của đạo lý xã hội, của mối quan hệ giữa người và người đang có biểu hiện xấu đi. Xã hội ấy sẽ thiếu vắng cái động lực từng “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn” động lực của tinh thần yêu nước dẫn dắt nhịp sống tinh thần của lớp trẻ. Thiếu cái đó, e rằng sẽ thiếu những điều rất lớn, có khi là thiếu tất cả.
Trở về với những lốt chân ngựa Thánh Gióng không phải nhằm bước theo lối mòn, người đi sau giẫm lên dấu chân của người đi trước để dẫn đến thảm họa, vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn. Thời đại đã thay đổi. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Những Thánh Gióng của thời đại mới sẽ có cách đi mới mà những thành tựu của văn minh loài người vừa tạo ra. Tuổi trẻ hiện đại phải dám đứng trên vai của những người đi trước để phóng tầm mắt mới nhìn vào thế giới, do đó mà chọn được những lối đi thích hợp. Mà làm thế được vì họ được thường xuyên chăm chút nâng niu và phát huy lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, tự hào với lịch sử của đất nước mình. Vì họ cảm nhận được “những lốt chân của Thánh Gióng”. Hãy tin ở huyền thoại mới trên mảnh đất thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt của ông cha ta để lại. Đón nhận và đáp ứng khát vọng lớn lao muốn biểu thị tinh thần yêu nước, nhất là của tuổi trẻ kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, là một trách nhiệm với đầy đủ tầm vóc cần thiết cho những ai biết rõ trách nhiệm của chính mình.
Ông cha ta đã từng biết cách làm như vậy để vượt qua những thử thách tưởng chừng không vượt qua được, và đó cũng là bài học Việt Nam, một giải pháp cho Việt Nam .








