Nguồn gốc chữ “song hỉ”
Vương An Thạch sinh năm 1021 và mất năm 1086 Công nguyên. Quê ông ở Lâm Xuyên, Vô Châu. Ngay từ nhỏ, cậu bé An Thạch đã rất thông minh xuất chúng. Năm 23 tuổi, trên đường đi Kinh thành thi Trạng nguyên, Vương An Thạch nghỉ chân tại trấn Mã Gia. Cơm trưa xong, ra ngoài dạo phố, An Thạch thấy ngoài cửa nhà Mã viên ngoại dán một nửa câu đối viết:
“Tẩu mã đăng, đăng tức mã đình bộ”
(còn ở dưới ghi: nửa câu đối kia chờ ai biết thì ứng đối).
An Thạch liền lẩm bẩm: “Ồ hay quá! Hay quá”
Quản gia nhà họ Mã nghe thấy vậy liền vào tâu với chủ nhà, nhưng khi Mã viên ngoại ra đến cửa thì không thấy An Thạch đâu nữa.
Ngày hôm sau, Vương An Thạch thi xong, ông là người nộp bài đầu tiên. Thầy giám thị thấy ông là người thông minh liền mời đến thi vấn đáp. Vị giám thị chỉ vào lá cờ phi hổ, đọc:
“Phi hổ kì, phi hổ kì, kì quấn tàng thân”.
Vương An Thạch liền nghĩ ngay đến nửa câu đối ở cửa nhà Mã viên ngoại, thế là buột miệng:
“Tẩu mã đăng, tẩu mã đăng, đăng tức mã đình bộ”.
Sự phản ứng nhanh nhẹn và đối đáp chính xác của Vương An Thạhc khiến thầy giám thị cứ tấm tắc khen mãi.
Thi xong, về trấn Mã gia, Vương An Thạch chợt nhớ đến nửa câu đối ở nhà họ Mã. Thế là ông liền đến thăm, rồi viết luôn nửa câu đối vừa đọc được của thầy giám thị.
“Phi hổ kì, phi hổ kì, kì quấn tàng thân”.
Mã viên ngoại thấy anh chàng này thông minh, chữ viết lại đẹp liền có ý gả cô con gái xinh đẹp cho chàng. Thì ra, Mã viên ngoại treo nửa câu đối ngoài cửa để tìm chồng cho cô con gái.
Lễ cưới của Vương An Thạch với cô con gái rượu của Mã viên ngoại đang được tổ chức linh đình thì Báo Tử đến bảo rằng: “Vương đại nhân kim bảng đề danh. Ngày mai lên đường đi nhận bảng”. Mã viên ngoại rất đỗi vui mừng, lại còn mở thêm tiệc nữa. Còn Vương An Thạch đã “hỉ” lại thêm “hỉ” (có nghĩa là đã vui lại thêm vui). Thế là đang lúc say xưa, ông tiện tay viết luôn chữ “hỉ”. Viết xong rồi, ông cảm thấy vẫn chưa đã, liền viết thêm một chữ “hỉ” nữa ngay bên cạnh chữ “hỉ” kia. Thế là liền thành chữ “song hỉ”. Vương An Thạch bảo người mang ra dán ngoài cửa, rồi cất tiếng ngâm nga:
“Hiểu đối liên thành song hỉ ca
Mã đăng phi hổ kết tơ la”.
(có nghĩa là: khéo viết câu đối thành song hỉ, đèn ngựa hổ phi kết tơ duyên).
Từ đó, tục lệ dán chữ “song hỉ” trong lễ cưới được hình thành và truyền rộng ra cho đến ngày nay. Hai nước Trung - Việt, núi sông liền một dải, có nền văn hoá tương đồng, cho nên tục dán chữ “song hỉ” vào dịp cưới của Trung Quốc đã được truyền sang Việt Nam là điều dễ hiểu.
Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 1 + 2, 2008, tr 73.







