Người xưa bảo vệ đảo Phú Quý
Theo Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn: Đó là một hòn đảo đột khởi giữa biển khơi, tiếp thẳng bờ biển Phan Rí, đảo dài 150 dặm, bốn bên đều là bãi cát”.
Trong báo cáo ngày 1 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 13 (1832) của Cai đội Cao Văn Biên cho biết, đảo Thuận Tĩnh (một trong những tên trước đây của đảo Phú Quý) nếu dùng thuyền bè đi vòng quanh sườn núi chừng 4 tiếng đồng thì giáp (từ đảo này nếu thuyền thuận gió thì đi 1 ngày đêm là đến bờ). Báo cáo đã ghi lại những phát hiện về địa lý tự nhiên và khảo tả đầy đủ, những địa danh được khảo sát về căn bản như tên gọi ngày nay. Trong đó ghi chép đầy đủ về vị trí, diện tích, thuỷ triều, độ sâu… có những vịnh có đá ngầm như Vịnh Đá Dù, Vịnh Thuế, Bải Lăng, Vịnh Ông Lường, Vịnh Cây Chổi, Vịnh Núi, Vịnh Bãi Chùa, vịnh Chà Tre… những chỗ này thuyền bè nên tránh xa.
Nội dung của báo cáo này có từ năm Minh Mạng thứ 13 (1832), nhưng những vấn đề lưu lại trong đó không phải chỉ giúp cho triều đình nhà Nguyễn biết tường tận về địa lý hòn đảo và ngư dân Phú Quý tránh được những chướng ngại của tự nhiên, mà ngày nay vẫn rất cần cho ngư dân, đặc biệt là ngành hàng hải, giao thông đường biển tham khảo khi thiết lập những tuyến hải trình.
Khi người Việt đến đảo ngày càng đông, từ một vài làng ban sơ đã sáp nhập, chia tách và hình thành nên nhiều làng. Mỗi làng chỉ vài chục nóc nhà nhưng cũng phải phân chia ra như vậy, có lẽ theo từng nhóm địa phương nơi cố hương để hợp với phong tục tập quán và dễ sinh hoạt. Một phần nữa phân chia như vậy để vừa bảo vệ làng mạc của mình, đồng thời bảo vệ chủ quyền của đảo. Đến đời Lê Hiển Tông - Cảnh Hưng (1740 – 1786), nhà Lê đã tổ chức trên đảo thành 14 làng và 1 ấp. Tiến đến từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Phú Quý còn 11 làng và trong Đại Nam nhất thống chí cũng cho biết: “Dân ở bao quanh có 11 làng, dùng người thổ hào quản lãnh, thường năm phải biệt nạp thuế vải”. Nằm giữa đại dương mênh mông, đảo Phú Quý thường như bị thu nhỏ lại, cuộc sống ở đây phải vật lộn với sóng to gió lớn hàng ngày, hàng giờ đòi hỏi con người phải tự lực tự cường, cùng đoàn kết đấu tranh chống lại những thế lực thù địch bên ngoài, nhất là bọn cướp biển.
Tài liệu gốc viết bằng chữ Hán Nôm chúng tôi sưu tầm được cho biết: Vào thế kỷ XVIII – XIX, nạn hải tặc Tàu Ô (do chúng đi trên những chiếc tàu sơn đen nên dân chúng gọi là “Tàu Ô”), Đồ Bà (Java) đang hoành hành trên các đảo nhỏ và các vùng ven biển Việt Nam. Giặc Tàu Ô hay đột nhập vào cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các tuyền buôn, gây bất ổn và cản trở việc thông thương giữa Gia Định với các tỉnh miền Trung.
Nằm trong số đảo của Việt Nam thời kỳ đó, đảo Phú Quý cũng không tránh khỏi nạn giặc Tàu Ô, Đồ Bà đến cướp bóc. Các công văn hành chánh của làng Thới An gửi cho triều đình Huế đã phản ánh rõ nét điều này.
Ở một văn bản đề ngày 10 tháng 9 năm Minh Mạng 14 (1833), Lý trưởng làng Thới An báo cáo về hộ tịch có thuật rằng vào ngày 9 tháng 7 trong năm (1833)., thình lình có 32 chiếc thuyền của giặc Đồ Bà xuất cập đến gần bờ và bắn chết 32 người dân trên đảo, trong đó có 4 người là dân làng Thới An.
Theo báo cáo của Lý trưởng 2 thôn Thới An và Hải Châu trình về việc ngày 7 tháng 2 năm Minh Mạng 18 (1837), lệnh vua truyền xuống 11 thôn trên đảo Thuận Tĩnh phải chia thành 5 toán. Riêng thôn Thới An và Hải Châu phải chia thành 2 toán để chống bọn cướp biển. Súng ống phân chia như sau: thôn Thới An 1 khẩu thần công, 4 khẩu điểu thương, 20 khẩu hoả hổ, 5 cây trường thương, 5 cân thuốc súng. Thôn Hà Châu 1 khẩu thần công, 4 khẩu điểu thương, 20 khẩu hoả hổ, 5 cây trường thương, 1 yến 2 cân thuốc súng (tương đương 12kg).
Trong vòng 36 năm kể từ năm 1797 đến 1833, nhân dân đảo Phú Quý đã ba lần bị hải tặc tần công và phải chiến đấu để tự bảo vệ mình, giữ gìn yên bình cho đảo nhỏ. Hiểu hết giá trị của những tài liệu gốc trên đây, chúng ta mới biết được người dân đảo Phú Quý bảo vệ và giữ gìn hòn đảo thiêng liêng của mình như thế àno. Những tài liệu đó cũng đã phần nào khắc hoạ nên cuộc sống đầy biến động của cư dân trên đảo và là bài học cảnh giác hiện nay để sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta.








