Nghiên cứu tiêu chí xác định điểm đen trên mạng quốc lộ Việt Nam
Tuy nhiên, từ khi được nghiên cứu đến nay, khái niệm thế nào là một “điểm đen” tai nạn giao thông và các tiêu chí xác định vẫn chưa được thống nhất trên toàn thế giới, thậm chí còn chưa thống nhất trong cùng một quốc gia. Tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước mà định nghĩa và tiêu chí xác định “điểm đen” có sự khác nhau lớn giữa các quốc gia. Ở nước ta, định nghĩa và tiêu chí xác định điểm đen đã được phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế hiện nay của chúng ta. Vì vậy, năm 2008, Viện Chiến lược và Phát triển GTVT đã hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm cấp bộ “Nghiên cứu tiêu chí xác định điểm đen và tiêu chí đánh giá thiệt hại kinh tế - xã hội do tai nạn giao thông đường bộ Việt Nam”. Báo cáo này nhằm giới thiệu tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài phần nghiên cứu về điểm đen, góp phần hoàn thiện dần các quy định và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn nhằm cải thiện tình hình tai nạn giao thông đường bộ của nước ta.
1. Giới thiệu tổng quan về định nghĩa và các tiêu chí xác định điểm đen ở các nước trên thế giới
1.1 Định nghĩa điểm đen
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về điểm đen tai nạn giao thông (TNGT) được quốc tế công nhận hay nói cách khác là hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chuẩn mực quốc tế về điểm đen tai nạn giao thông. “Điểm đen” chỉ xuất hiện và phân loại sau khi có sự đánh giá, nhận xét và thống kê mức độ TNGT trong một khoảng thời gian nhất định. Với mỗi nước khác nhau đều có những khái niệm về “điểm đen” phù hợp với điều kiện giao thông, kết cấu hạ tầng của mình.
Theo Tiểu ban ATGT thuộc Uỷ ban châu Âu thì “điểm đen” là một cụm từ chỉ vị trí, những đoạn đường hoặc những nút giao thông nằm trên mạng lưới đường bộ của một nước hoặc của một vùng nào đó mà tại các vị trí này, trong một khoảng thời gian nhất định đã từng xảy ra nhiều vụ TNGT với mật độ cao, gây thương vong và tổn thất lớn về người và tài sản. Thời gian đó thường được tính trong khoảng từ 3 – 5 năm gần nhất trở lại.
Theo Autralia thì khái niệm “điểm đen” có thể hiểu là tại các vị trí cụ thể mức độ rủi ro cao hơn mức rủi ro chung tại các khu vực xung quanh. Các vụ va chạm có xu hướng tập trung tại các vị trí rủi ro cao, các vị trí có các va chạm cao khác thường được mô tả là vị trí “nguy hiểm” hoặc “điểm đen”. Vị trí “điểm đen” thường là “khu vực đen” hoặc các đoạn của tuyến đường. Các “điểm đen” này thường liên quan đến các đặc điểm của môi trường đường bộ như các giao cắt hoặc các đoạn cong.
Đối với Thái Lan, “điểm đen” là nơi xảy ra nhiều TNGT hoặc nơi độ rủi ro xảy ra TNGT cao, rủi ro xảy ra TNGT có thương tật cao. Điểm đen có thể là một nút giao thông hay một đoạn tuyến hoặc bất kể điểm nào đáp ứng định nghĩa.
Qua các khái niệm về “điểm đen” của một số nước cho thấy khái niệm về “điểm đen” của một số nước cho thấy khái niệm về “điểm đen” hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất chung. Các khái niệm ở trên cơ bản đều thống nhất “điểm đen” là một khu vực có độ rủi ro cao hơn khu vực khác, nơi tần suất xảy ra tai nạn giao thông cao hơn các khu vực lân cận và thời gian theo dõi là trong một thời gian nhất định. Các yếu tố khác như số vụ tai nạn, khoảng thời gian, thiệt hại về người và tài sản hay phạm vi là điều kiện mở đối với các nước tuỳ theo điều kiện về giao thông của mình mà có những quy định riêng.
1.2 Tiêu chí xác định điểm đen
Định nghĩa về “điểm đen” giữa các nước đã có sự khác biệt. Tuy nhiên, các tiêu chí xác định điểm đen giữa các nước còn khác biệt hơn rất nhiều, thậm chí ngay trong một quốc gia, các tiêu chí xác định điểm đen của các vùng cũng có sự khác nhau lớn.
Tiêu chí xác định điểm đen của Áo:tại nút giao hay trên một đoạn đường dài từ vài mét tới 250 mét có ít nhất 03 vụ TNGT thông thường xảy ra có người bị thương trong vòng 3 năm. Tiêu chí này của Áo đơn giản, chỉ cần với 03 vụ có thương vong đã được coi là một điểm đen. Các yếu tố khác về kinh tế hay kỹ thuật không được thể hiện rõ. Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế cao thì đây cũng là tiêu chí phù hợp với điều kiện và tình hình của Áo.
Tiêu chí xác định điểm đen của Bỉ:xác định bằng công thức (B = L + 3S + 5D = 15) trên một đoạn đường dài 500m với số liệu là trong khoảng thời gian 3 năm. Tiêu chí xác định điểm đen này của Bỉ thể hiện tính kinh tế rất cao. Thực chất mức tương đương về thiệt hại kinh tế đã được xác định. Cứ 01 người chết thì mức thiệt hại TNGT tương đương với 05 người bị thương nhẹ và 01 người bị thương nặng tương đương với 03 người bị thương nhẹ. Đây là phương pháp xác định rất khoa học và thể hiện được thiệt hại kinh tế của TNGT. Từ đây có thể quy ra thiệt hại bao nhiêu thì được coi là một điểm đen. Tuy nhiên, với tiêu chí này, số vụ TNGT không được đề cập.
Tiêu chí xác định của Pháp:chia làm 3 cấp độ khác nhau. Cấp độ 1 là trong đoạn 850m, tập trung ít nhất 04 vụ TNGT có người bị thương và ít nhất là 04 người bị thương nghiêm trọng trong vòng 5 năm. Cấp độ 2 là trong đoạn 850m, tập trung ít nhất 07 vụ TNGT có người bị thương và ít nhất là 07 người bị thương nghiêm trọng trong vòng 5 năm và Cấp độ 3 là trong đoạn 850m, tập trung ít nhất 10 vụ TNGT có người bị thương và ít nhất là 10 người bị thương nghiêm trọng trong vòng 5 năm. Tiêu chí của Pháp được phân ra một cách chi tiết và phạm vi xét trên một đoạn dài đến 850m. Tiêu chí này đã đề cập đến số vụ TNGT và số người chết, bị thương. Thời gian được xét tương đối dài, trong vòng 5 năm.
Tiêu chí xác định của Đức:Trong một đoạn đường 300m có hơn 05 vụ TNGT cùng loại trong bản đồ TNGT 01 năm hoặc hơn 03 vụ TNGT trong bản đồ TNGT 03 năm. Tiêu chí xác định điểm đen của Đức nhấn mạnh vào yếu tố lặp đi lặp lại của cùng nguyên nhân. Đây là yếu tố thể hiện được tương đối sát nguyên nhân gây TNGT. Tuy nhiên, cần phải có hệ thống CSDL hiện đại và có hệ thống.
Tiêu chí xác định của Tây Ban Nha:Tiêu chí xác định điểm đen ở Tây Ban Nha được chia thành 04 khu vực với những tiêu chí xác định khác nhau: (i) vùng Andalusia: trong một đoạn đường dài 01 km có trên 05 vụ TNGT có người bị thương hoặc có hơn 02 người bị chết trong thời gian 01 năm hoặc trên 10 vụ TNGT có người bị thương hoặc có hơn 05 người bị chết trong thời gian 03 năm; (ii) Vùng La Rioja: trong một đoạn đường dài 01 km có 05 hoặc nhiều hơn 05 vụ TNGT có người bị thương trong vòng 03 năm; 03 hoặc nhiều hơn 03 vụ TNGT có người bị thương trong 01 năm được xét trong 03 năm qua (một vụ có ít nhất một người chết); (iii) Vùng Madrid: trong một năm có 03 hoặc nhiều hơn 03 vụ TNGT xảy ra và (iv) Vùng Valencia: điểm (là trong đoạn dài 200m) có 03 hoặc nhiều hơn 03 vụ TNGT xảy ra trong vòng 03 năm. Tiêu chí xác định của Tây Ban Nhan thể hiện được nhu cầu của từng vùng kinh tế. Đối với những vùng kinh tế phát triển, số lượng TNGT thấp hơn đã được coi là điểm đen và ngược lại.
Tiêu chí xác định của Thuỵ Điển:số vụ TNGT ở một điểm hoặc một đoạn dài từ 10 đến 50 km nhiều hơn 20 vụ trong một giai đoạn nhất định (thường là 03 hoặc 05 năm).
Tiêu chí xác định của Úc:tại mỗi vị trí như nút giao, đoạn giữa nút giao hoặc đoạn đường ngắn có ít nhất 03 vụ va chạm có thương vong (có người chết hoặc bị thương) trong một năm; hoặc 03 vụ va chạm có thương vong trong giai đoạn 03 năm; 04 vụ trong 04 năm; 05 vụ trong 05 năm. Đối với chiều dài đoạn tuyến, phải có 0,2 vụ va chạm có thương tích/ 1km đường trong 05 năm hoặc đoạn tuyến có số vụ va chạm nhiều hơn 10% so với các đoạn đường khác trong khu vực. Tiêu chí xác định của Úc không nêu rõ phạm vi nhưng lại thể hiện được mức độ nghiêm trọng của từng đoạn tuyến khi xét chỉ số số vụ va chạm có thương tích trung bình/ 1km đường.
Tiêu chí xác định của Thái Lan:xác định bằng công thức thực nghiệm qua việc phân tích số liệu thống kê. Việc xác định tiêu chí của Thái Lan rất khoa học và được chuẩn hoá và phù hợp với điều kiện riêng của Thái Lan và các giá trị đã được phân tích qua hệ thống cơ sở dữ liệu tương đối hoàn chỉnh.
Nhìn chung, dù các tiêu chí có sự khác nhau giữa các quốc gia song tựu chung những tiêu chí xác định điểm đen cơ bản đều bao gồm: (i) Tần suất xuất hiện tai nạn giao thông (số vụ); (ii) Phạm vi xem xét điểm đen; (iii) Khoảng thời gian xem xét và (iv) Mức độ thiệt hại.
2. Giới thiệu tổng quan về định nghĩa và các tiêu chí xác định điểm đen ở Việt Nam
2.1 Định nghĩa điểm đen
Thuật ngữ “điểm đen” được nhắc đến tại Việt Nam bắt đầu vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Thuật ngữ “điểm đen” được đề cập đến trong dự án nghiên cứu cải thiện an toàn Đường bộ Việt Nam thuộc Dự án nâng cấp Quốc lộ 1 của Ngân hàng Thế giới trong báo cáo các vị trí nguy hiểm trên QL1 – Ross Silcock, 10 – 1998, Sổ tay điều tra và Cải tạo điểm đen ở Việt nam – Ross Silcock, 12 – 1999 và Dự án An toàn giao thông đường bộ Quốc gia – Giai đoạn 1 vốn vay Ngân hàng Thế giới – OPUS & TDSI (năm 2005).
Tại thời điểm đó ở Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa chính thức nào về “điểm đen”, các khái niệm về điểm đen được đưa ra trong các dự án nghiên cứu hợp tác với nước ngoài về cải thiện ATGT đường bộ. Với mỗi Tư vấn khác nhau thì họ đều đưa ra những khái niệm và định nghĩa về đểm đen khác nhau mà nước họ đang áp dụng.
Theo tài liệu “Tiêu chuẩn xác định và xử lý điểm đen trên quốc lộ” năm 2000 của Cục Đường bộ thì điểm đen được định nghĩa “ Việc xảy ra tai nạn giao thông trên đường bộ mang tính ngẫu nhiên, lặp đi lặp lại nhiều lần tại một khu vực, một điểm được gọi là ‘khu vực nguy hiểm’ hay còn gọi là ‘điểm đen’. Các điểm đen thường là các khu vực đông dân cư dọc hai bên đường, các nút giao thông có mật độ qua lại lớn, các đường con có bán kính nhỏ, tầm nhìn hai chiều hạn chế…”.
Dự án Chuẩn bị An toàn giao thông đường bộ Quốc gia – Giai đoạn 1 vốn vay Ngân hàng Thế giới (năm 2005) đã đề cập đến điểm đen là các địa điểm cụ thể nơi có số lượng các vụ TNGT cao, các đoạn quốc lộ với điều kiện địa lý, môi trường, và các điều kiện giao thông cụ thể nơi có tỷ lệ TNGT ở mức cao bất thường (các tuyến đen).Khái niệm về điểm đen này đã có sự tham khảo từ các dự án về ATGT trước ở Việt Nam . Tuy nhiên, khái niệm còn chung chung nhưng cũng đã đề cập đến cả tuyến đen.
Tại cuộc hội thảo về “Xác định và xử lý điểm đen trên hệ thống đường bộ” được tổ chức vào tháng 9 năm 2004, Cục Đường bộ đưa ra khái niệm về điểm đen như sau: “Điểm đen là vị trí trên đường bộ đang khai thác thường hay có tai nạn giao thông xảy ra”. Trên các tuyến đường bộ, điểm đen chỉ xuất hiện và được phân loại khi có sự đánh giá, nhận xét và thống kê TNGT trong một khoảng thời gian đã qua. Nghiên cứu nhận thấy rằng, tại một vị trí nơi tuyến đường đi qua thì TNGT dường như lúc nào cũng cao hơn so với nơi khác. Do tỷ lệ TNGT xuất hiện tập trung nhiều vào các điểm đặc biệt này nên người ta gọi nó là “điểm đen” về TNGT. “Điểm” ở đây không hiểu theo khái niệm toán học mà là một khu vực nghiên cứu thông thường là một đoạn đường hoặc một nút giao. Để xác định số vụ tai nạn phải căn cứ vào dữ liệu tai nạn lấy từ hồ sơ báo cáo của CSGT trong thời gian từ 3 – 5 năm, thông thường là 3 năm. Trong trường hợp khó khăn có thể là số liệu của 1 hoặc 2 năm. Khái niệm về “điểm đen” trình bày tại cuộc hội thảo này đã bổ sung thêm nhiều tiêu chí so với khái niệm mà Cục Đường bộ đưa ra trong các tài liệu trước nhưng vẫn chưa đưa ra được một khái niệm về “điểm đen” một cách đầy đủ.
Cùng với khái niệm về điểm đen được đưa ra ở trên, Bộ trưởng Bộ GTVT đã ra Quyết định số 13/2005/QĐ-BGTVT ngày 02 – 02 – 2005. Theo quyết định này thì định nghĩa điểm đen được xác định theo Điều 1 như sau: “ Điểm đen là vị trí nguy hiểm mà tại đó thường xả ra tai nạn giao thông. Từ “điểm” ở đây được hiểu là một vị trí hoặc một đoạn đường hoặc trong khu vực nút giao thông”.
Một trong những vấn đề hầu như không được đưa vào trong định nghĩa về “điểm đen” cả ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác đó là thể hiện được bản chất của một “điểm đen”. Điểm đen là những vị trí mà TNGT xảy ra nhiều và có mức độ nghiêm trọng nào đó và TNGT phải xảy ra thường xuyên và lặp lại theo ở một mức độ nào đó. Nhiều điểm khi thống kê chỉ có một số vụ TNGT nhưng số người chết và bị thương lại rất lớn mà nguyên nhân gây ra TNGT không phải do lỗi về KCHT mà do các yếu tố khác (ví dụ như lái xe buồn ngủ, lái xe uống rượu bia…) thì không thể được coi là một điểm đen TNGT.
2.2 Tiêu chí xác định điểm đen
Theo tài liệu “Tiêu chuẩn xác định và xử lý điểm đen trên quốc lộ” năm 2000 của Cục Đường bộ thì tiêu chí để xác định điểm đen như sau:
- Thời gian xem xét số liệu tối thiểu 3 năm. Thời gian này nhằm điều hoà và đưa ra sự sắp xếp đáng tin cậy vị trí nguy hiểm.
- Số lượng vụ TNGT: trên đường dài số vụ bình quân trên 1km/ 1năm. Ở nút giao thông số vụ tai nạn trong phạm vi bán kính 50m (từ tâm nút giao số lượng vụ tai nạn từ 5 vụ trở lên trong 1 năm).
- Theo mức độ nghiêm trọng của tai nạn: Các tai nạn xảy ra trong năm phải có một vụ chết người.
Cục Đường bộ đã đưa thời gian xem xét tối thiểu là 3 năm và cũng đưa ra được phạm vi bán kính của điểm đen tại nút giao thông. Nhưng tài liệu này cũng chưa đưa ra đuợc phạm vi bán kính tối thiểu với những điểm đen trên đường quốc lộ, đường đô thị và số liệu vụ tai nạn tại vị trí đó trên đường thì vẫn chưa đưa ra được.
Trong cuộc hội thảo về điểm đen được tổ chức và năm 2004, Cục Đường bộ đã đưa ra tiêu chí xác định điểm đen như sau:
- Nơi có bình quân 2 vụ tai nạn nghiêm trọng trở lên/ năm.
- Nơi có bình quân 3 vụ tai nạn trở lên/năm, trong đó có 1 vụ nghiêm trọng có người chết.
- Nơi có bình quân 5 vụ tai nạn trở lên/ năm, nhưng chỉ có người bị thương.
Cục Đường bộ đã bổ sung thêm một số tiêu chí mà tài liệu “Tiêu chuẩn xác định và xử lý điểm đen trên quốc lộ” năm 2000 đưa ra. Sự bổ sung này là đưa ra được tiêu chí về số vụ TNGT tại một điểm, người chết, bị thương nhưng lại chưa đưa ra được phạm vi bán kính một vị trí điểm đen trên quốc lộ, nút giao…
Bộ GTVT đã ban hành Quyết định 13 về “Quy định về việc xác định và xử lý nguy hiểm thường xảy ra TNGTĐB đang khai thác”. Theo Quyết định 13/2005/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT tại Điều 2 thì tiêu chí xác định điểm đen phải căn cứ vào tình hình TNGT xảy ra trong một năm về số vụ và mức độ thiệt hại:
- 02 vụ tai nạn nghiêm trọng (tai nạn có người chết) hoặc
- 03 vụ tai nạn trở lên, trong đó có 1 vụ tai nạn nghiêm trọng hoặc
- 04 vụ tai nạn trở lên, nhưng có người bị thương.
Theo Thông tư Liên bộ 02 – TAND – VKSNDTC - Bộ Công an ngày 7/1/1995 TNGTĐB được phân loại như sau:
- Tai nạn nghiêm trọng: chết 01 – 02 người.
- Tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng: chết 3 người trở lên; chết 02 người, 01 người bị thương nặng; chết 01 người, bị thương nặng 02 người; chết 01 người bị thương nặng 03 người; gây thiệt hại tài sản tương đương 45 tấn gạo trở lên.
- Tai nạn giao thông nhẹ: thiệt hại sức khoẻ, tài sản.
Các tiêu chí xác định điểm đen theo Quyết định 13 vẫn chưa thể hiện rõ được bản chất của điểm đen, còn nhiều bất cập. Ở đây, điểm đen vẫn còn chưa qui định rõ phạm vi bao nhiêu mét là một điểm? chưa đưa ra được thế nào là một tuyến đường đen? phạm vi và chiều dài của tuyến đen là bao nhiêu? những điểm TNGT xảy ra do lỗi của đường gây thiệt hại lớn về tài sản nhưng không hoặc ít thiệt hại về người thì không được xét là điểm đen cần cải tạo. Vì vậy, gây ảnh hưởng lớn đến công tác xác định và xử lý điểm đen.
3. Phương pháp luận xây dựng các tiêu chí xác định điểm đen trên mạng quốc lộ ở Việt Nam
3.1 Tiêu chí phân loại TNGTĐB
Phân loại tai nạn giao thông theo mức độ nghiêm trọng: theo Quyết định sóo 768/2006/QĐ-BCA (C11) ngày 20 – 6 – 2006 (hiện nay Bộ Công an đang tiến hành chỉnh sửa thành Thông tư và lấy ý kiến đóng góp) của Bộ trưởng Bộ Công an, TNGTĐB được phân ra làm 5 loại gồm (i) va chạm giao thông; (ii) TNGT ít nghiêm trọng; (iii) TNGT nghiêm trọng; (iv) TNGT rất nghiêm trọng và (v) TNGT đặc biệt nghiêm trọng.
Định nghĩa thương vong:thương vong do TNGT gồm tử vong, bị thương nặng, bị thương nhẹ. Khái niệm tử vong ở một số nước cũng khác nhau, có nước tử vong do TNGT được tính trong 1, 3, 6, 7, 30 ngày sau khi TNGT xảy ra. Tuy nhiên, có một số nước là 365 ngày. Tại Việt Nam , tính đến thời điểm hiện nay phần lớn số liệu tử vong do TNGTĐB được báo cáo là trường hợp nạn nhân bị chết ngay tại hiện trường nơi TNGT xảy ra. Phần nạn nhân bị thương và bị tử vong trong bệnh viện hầu như không được báo cáo hoặc chiếm một tỷ lệ rất nhỏ do đó kiến nghị định nghĩa cho khái niệm “chết do TNGT” ở Việt Nam như sau: “ Chết do TNGT là trường hợp người bị TNGTĐB bị thiệt mạng hoặc bị thương dẫn đến thiệt mạng trong vòng 30 ngày kể từ khi bị TNGT”.
Đến nay, ở Việt Nam chưa có định nghĩa chính thức về thương nặng và thương nhẹ. Không phải tất cả các trường hợp bị thương do TNGT được giám định sức khoẻ theo Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26/7/1995 của Bộ Y tế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về tiêu chuẩn thương tật để đánh giá tỷ lệ % thương tật của người bị nạn. Do đó, kiến nghị sử dụng định nghĩa như sau: “ Chấn thương nhẹ là chấn thương không phải nằm viện hoặc yêu cầu phải nằm viện không quá 10 ngày. Chấn thương nặng là chấn thương yêu cầu phải nằm viện 10 ngày”.
Phân loại tai nạn giao thông theo mức độ thiệt hại: thiệt hại do TNGT được tính gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại con người. Hiện tại ở nước ta đã có quy định phân loại TNGT theo mức độ thiệt hại cả về con người và thiệt hại tài sản vật chất theo Quyết định số 768/2006/QĐ-BCA: (i) Va chạm giao thông: là tai nạn giao thông gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của con người dưới mức thiệt hại của tai nạn giao thông ít nghiêm trọng; (ii) TNGT ít nghiêm trọng: gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; (iii) TNGT nghiêm trọng: gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (iv) TNGT rất nghiêm trọng: gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 đến dưới 1 tỷ 500 triệu đồng và (v) TNGT đặc biệt nghiêm trọng: gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 01 tỷ 500 triệu đồng trở lên.
3.2 Định nghĩa điểm đen mạng quốc lộ
Điểm đen là một cụm từ chỉ vị trí, đoạn đường hoặc nút giao thông nằm trên mạng đường bộ mà tại đó, trong một khoảng thời gian nhất định đã từng xảy ra nhiều vụ TNGT với mật độ cao, gây thương vong và tổn thất lớn về người và tài sản.
Định nghĩa này đã thể hiện được các yếu tố khái quát của điểm đen, như: phạm vi của điểm đen (vị trí, đoạn đường và nút giao); yếu tố khoảng thời gian nhất định: TNGT xảy ra với mật độ cao và kết quả của TNGT là gây thương vong và tổn thất lớn về người và tài sản.
3.3 Các tiêu chí xác định điểm đen mạng quốc lộ
Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu và thống nhất phương pháp xây dựng các tiêu chí xác định điểm đen. Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứ lý thuyết để xây dựng các khái niệm cơ bản có liên quan và các tiêu chí xác định điểm đen trong điều kiện riêng của Việt Nam . Nghiên cứu sẽ phân tích các yếu tố trên những cơ sở tham khảo các định nghĩa và các tiêu chí của một số quốc gia, tập hợp và đưa ra các khía cạnh cần xem xét; xem xét các vấn đề có liên quan trong điều kiện Việt Nam; phân tích logic và đề xuất các phương án khả thi nhất. Việc xác định điểm đen dựa trên những tiêu chí cơ bản như sau: (i) tiêu chí về số lượng vụ TNGT; (ii) tiêu chí về mức độ thiệt hại; (iii) tiêu chí về khoảng thời gian xem xét; (iv) tiêu chí về phạm vi xem xét và (v) tiêu chí về tính lặp lại nguyên nhân của TNGT.
a) Tiêu chí về số vụ TNGT
Định nghĩa TNGTĐC như sau: tai nạn giao thông đường bộ là một sự cố, xảy ra một cách ngẫu nhiên, bất ngờ ngoài ý muốn chủ quan của người tham gia giao thông khi các đối tượng tham gia giao thông trên hệ thống đường bộ và do các yếu tố về phương tiện, con người và môi trường đường bộ gây ra thiệt hại về người và tài sản hoặc gây ra một sự va chạm trên đường và được cảnh sát ghi nhận.
Tính lặp lại của TNGT hay tần suất xuất hiện TNGT của một vị trí hay khu vực nào đó cao hơn hẳn các khu vực khác chỉ xảy ra nếu vị trí hay khu vực đó có những khiếm khuyết bất lợi cho ATGT của kết cấu hạ tầng giao thông. Chính vì vậy, tiêu chí về số vụ TNGT đóng vai trò rất quan trọng và nó thể hiện được đặc tính nguyên nhân gây TNGT của kết cấu hạ tầng giao thông và thông qua nó phản ánh được tương đối chính xác về những vị trí điểm đen TNGT cần được xử lý cải tạo.
Qua nghiên cứu so sánh của các quốc gia, ở một mức độ nào đó có thể chấp nhận được về mặt logic thì khi xét trong thời gian 01 năm ít nhất phải có từ 2 vụ TNGT trở lên. Còn khi xét thời gian dài hơn ở mốc 03 hoặc 05 năm thì chúng ta có thể lấy số vụ TNGT trung bình xảy ra hàng năm ít nhất là 01 vụ TNGT.
b) Tiêu chí về mức độ thiệt hại
Mức độ thiệt hại do TNGT đóng vai trò quan trọng trong việc đầu tư cải tạo điểm đen TNGT. Việc xác định thiệt hại bao nhiêu thì được coi là điểm đen cũng tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi nước. Kiến nghị lấy mức độ thiệt hại tương đương với 02 người tử vong là giới hạn cho xác định điểm đen.
c) Tiêu chí về khoảng thời gian xem xét
Trên thế giới, các nước thường sử dụng 03 mốc thời gian cho việc xem xét xác định điểm đen TNGT là 01 năm, 03 năm và 05 năm.
Theo quy trình xác định và xử lý điểm đen của Việt Nam, khoảng thời gian xem xét là 03 năm và trong trường hợp khó khăn về mặt số liệu thì thời gian xem xét là 01 năm. Khoảng thời gian xem xét xác định điểm đen thể hiện tần suất xuất hiện TNGT và thể hiện mức độ thiệt hại do TNGT xảy ra trong một thời gian. Trong khoảng thời gian 01 năm, những lỗi gây TNGT là nghiêm trọng, dễ phát hiện. Trong khoảng thời gian 03 năm, nhưng lỗi gây TNGT ít nghiêm trọng hơn ở mức độ trung bình, các lỗi này thể hiện không rõ nét. Trong khoảng thời gian 05 năm, đây là khoảng thời gian dài, các lỗi sau một thời gian khai thác mới thể hiện rõ và nó là những lỗi ít nghiêm trọng nên tần suất xảy ra ít hơn.
Qua phân tích, nghiên cứu kiến nghị trong thời gian từ nay đến năm 2015 chúng ta sử dụng tiêu chí xác định điểm đen theo 02 mức thời gian là 01 năm và 03 năm, mức thời gian 05 năm nên sử dụng từ năm 2015 trở đi khi hệ thống cơ sở dữ liệu về TNGT đã được vận hành và từng bước đi vào ổn định.
d) Tiêu chí về phạm vi xem xét
Nhiều quốc gia sử dụng từ “Hazardous location”, tiếng Việt tạm dịch là “Vị trí nguy hiểm”. Những quốc gia khác lại sử dụng từ “Black spot”, tiếng Việt là “điểm đen” hay “chấm đen”. Chính vì vậy, mỗi quốc gia lại đưa ra một phạm vi riêng như một đoạn đường dài 200m, 250m, 300m, 850m, 1 km hay từ 10 đến 50 km.
Cần phải xác định rõ phạm vi của điểm đen, bao gồm: (i) Tại một nút giao thông; (ii) Tại một vị trí xác định trên đường (không phải nút giao) và (iii) Trên một đoạn tuyến đường có những đặc điểm tương tự.
Tại nút giao
Theo “Tiêu chuẩn xác định và xử lý điểm đen trên quốc lộ” năm 2000 của Cục Đường bộ Việt Nam quy định phạm vi nút giao là khu vực trong bán kính 50m từ tâm nút giao. Quy định này không phản ánh được và không có cơ sở khoa học. Phạm vi của mỗi nút giao phụ thuộc vào quy mô của từng loại nút giao do đó chúng ta không thể quy định một con số cụ thể ở đây được. Mặt khác, phạm vi nút giao còn phụ thuộc tầm nhìn của nút giao và phạm vi tính từ tâm nút giao ra các nhánh là khác nhau. Tuy nhiên, TNGT có thể xảy ra tại khu vực tiếp giáp giữa phạm vi điểm vào/ ra nút giao với tuyến đường, vì đây là khu vực chuyển tốc độ và thay đổi môi trường, điều kiện cường độ do đó khi tính TNGT tại nút giao cần phải tính thêm một khoảng chuyển tiếp này. Chúng tôi kiến nghị cách tính đoạn chuyển tiếp này như sau: thời gian phản ứng kịp thời của lái xe là 03 giây; vận tốc xe chạy theo TCVN 4054 – 05 với vận tốc thiết kế của đường cấp I đồng bằng là 120 km/h. Đối với đường cấp còn lại nhỏ hơn tuy nhiên để an toàn chúng tôi kiến nghị sử dụng vận tốc này để tính chung. Như vậy, chiều dài cần thiết cho lái xe kịp phản ứng là 100m.
Phạm vi xem xét tại nút giao là các TNGT xảy ra trong khu vực phạm vi hình học của nút giao cộng thêm 100m cho mỗi hướng. Nếu chiều dài tính từ tâm nút giao ra mỗi hướng là Li (m) thì phạm vi nút giao được xét là (Li + 100) m.
Tại một vị trí xác định trên đường
Vấn đề đặt ra là một vị trí được xem xét là điểm đen trên đường có phạm vi như thế nào? Theo số liệu phân tích nguyên nhân TNGT thì lỗi do vượt quá tốc độ chiếm từ 30 – 40% số vụ TNGT xảy ra do đó chúng tôi kiến nghị cách tính dựa trên các yếu tố sau: thời gian phản ứng kịp thời của lái xe là 03 giây; vận tốc xe chạy theo TCVN 4054 – 05, vận tốc thiết kế của đường cấp I đồng bằng là 120 km/h, mức độ vượt tốc độ cho phép chúng tôi ước khoảng 25% để bảo đảm an toàn (vận tốc cao nhất có thể đạt tới là 150 km/h). Kết quả tính cho cả 2 chiều, đoạn dài 250m. Như vậy điểm đen tại một vị trí là đoạn đường có chiều dài 250m.
Trên một đoạn tuyến đường có đặc điểm tương tự
Khi một đoạn tuyến dài hơn 250m mà có những đặc điểm tương tự (như các yếu tố hình học tuyến đường, mặt đường và điều kiện hai bên đường) mà xảy ra nhiều TNGT cần phải tiến hành xử lý cải tạo cả đoạn tuyến. Vấn đề là xác định phạm vi của đoạn này thế nào? Có những quốc gia xem xét trong một phạm vi ngắn (khoảng 1 km) nhưng cũng có những quốc gia xem xét trong cả đoạn dài 10 km đến 50 km và tiêu chí là xác định số vụ TNGT, mức độ thiệt hại do TNGT trong phạm vi này. Chúng tôi cho rằng, không nên xác định cụ thể chiều dài một đoạn tuyến mà nên sử dụng mật độ TNGT trên đoạn tuyến để xác định. Nó thể hiện được tính khoa học hơn và khi đó phạm vi của đoạn tuyến tuỳ thuộc vào mức độ TNGT xảy ra trên nó.
Kiến nghị sử dụng khái niệm “tuyến đen” là đoạn có mật độ TNGT trung bình/ 1km cao hơn 20% mật độ TNGT trung bình/ 1km của chiều dài toàn tuyến.
e) Tiêu chí về tính lặp lại nguyên nhân TNGT
Chỉ cần có nhiều số vụ TNGT xảy ra cùng một loại tại một vị trí hoặc một khu vực tức là nguyên nhân giống nhau có thể dễ dàng đi đến kết luận là điểm đen TNGTĐB. Thực tế không có nhiều quốc gia đưa tiêu chí này vào trong việc xác định điểm đen. Kiến nghị tiêu chí này sẽ được xem xét đưa vào sau khi hệ thống CSDL đã được xây dựng một cách hoàn chỉnh.
3. 4 Mô hình xác định điểm đen
Sau khi tính toán được thiệt hại kinh tế - xã hội do TNGTĐB gây ra (năm 2006). Ước tính với kết quả như sau:
- Thiệt hại 01 người chết là 564,55 triệu đồng;
- Thiệt hại 01 người bị thương nặng là 267,01 triệu đồng;
- Thiệt hại 01 người bị thương nhẹ là 24,27 triệu đồng;
- Thiệt hại 01 người bị thương (chung, không phân loại) là 218,46 triệu đồng.
Khi đó các tiêu chí xác định điểm đen như sau:
- Trong 01 năm có ít nhất 2 vụ TNGT; trong 03 năm hoặc 05 năm, mỗi năm trung bình có ít nhất 01 vụ TNGT xảy ra.
- Trên một đoạn đường, một vị trí dài 250 m, hoặc khu vực nút giao.
- Có số liệu TNGT theo các mốc 01 năm, 03 năm hoặc 05 năm.
Có: BS = L + 11* S + 23*D + (P/24) ≥ 46 (1)
Trong đó:
L: Tổng số người bị thương nhẹ;
S: Tổng số người bị thương nặng;
D: Tổng số người bị chết;
P: Thiệt hại tài sản (triệu đồng)
Tuy nhiên, hiện tại phần lớn số liệu TNGT được CSGT ghi nhận đều không phân rõ trường hợp bị thương nặng hay bị thương nhẹ do đó có thể sử dụng mô hình sau để xác định:
BS = 9*l + 23*D (P/24) ≥ 46 (2)
Trong đó: l là tổng số người bị thương (chung không phân biệt thương nặng, nhẹ).
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành áp dụng thí điểm xác định điểm đen trên QL3 Hà Nội – Thái Nguyên dài 68 km, số liệu TNGT được sử dụng là số liệu trong 3 năm (2003 – 2005). Tổng số điểm đen TNGT xác định theo các tiêu chí đề xuất là 76 điểm với tổng chiều dài là 11,2 km. Trong khi đó, xác định theo các tiêu chí quy định tại QĐ 13 và qua thẩm định của Tư vấn ALMEC của Nhật Bản (trong Dự án An toàn giao thông trên các quốc lộ 3, 5, 10 và 18) cho thấy số điểm đen TNGT và tuyến đen TNGT là 18 điểm với tổng chiều dài 26,2 km. Những sự khác biệt cơ bản giữa tiêu chí hiện tại và tiêu chí đề xuất trong nghiên cứu này như sau’
- Phạm vi được xác định là một điểm đen theo tiêu chí hiện tại không rõ ràng do đó khi xác định Tư vấn gộp cả một đoạn dài là một điểm đen (có thể coi đây như một tuyến đen) với chiều dài từ 300 m đến 3,8 km, trong khi đó theo tiêu chí đề xuất là trong khoảng 250 m một cách cụ thể.
- Tiêu chí xác định hiện tại quy định chủ yếu rõ ràng về những vụ TNGT chết người, trường hợp bị thương khó xác định và thiệt hại về vật chất không được đưa vào xem xét. Trong khii đó, theo tiêu chí đề xuất hoàn toàn có thể dễ dàng xác định và so sánh vì tiêu chí mới được đề xuất dựa trên cơ sở thiệt hại do TNGT. Các TNGT được lượng hoá và đưa vào tính toán để xem thiệt hại tại một điểm nào đó do TNGT xảy ra có vượt quá giới hạn cho phép không.
3.5 Phân cấp độ điểm đen
Tất cả các trường hợp thoả mãn các tiêu chí và mô hình (1) và (2) đều được xác định là các điểm đen tai nạn giao thông cần phải được xử lý, cải tạo ngay. Tuy nhiên, xem xét trong điều kiện của nước ta còn hạn hẹp về nguồn kinh phí do đó cần phải xem xét phân cấp độ của điểm đen nhằm giúp công tác quản lý của các cơ quan chức năng cũng như xác định được thứ tự ưu tiên đầu tư. Trong nghiên cứu này, trên cơ sở hiện trạng công tác cải tạo điểm đen những năm qua và các yếu tố kinh tế, xã hội có liên quan. Nghiên cứu đề xuất phân điểm đen là 3 cấp (các cấp phải đủ các tiêu chí, chỉ xét riêng chỉ số BS):
Điểm đen: BS = 46 ÷ 69 (tương đương 2 ÷ 3 người chết);
Điểm đen rất nguy hiểm: BS= 70 ÷ 90 (tương đương 3 ÷ 4 người chết);
Điểm đen đặc biệt nguy hiểm: BS > 90 (tương đương trên 4 người chết).
4. Kết luận
Nghiên cứu của đề tài đã đánh giá một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về TNGTĐB Việt Nam và xây dựng các tiêu chí về TNGTĐB phù hợp với điều kiện nước ta. Căn cứ kết quả nghiên cứu, đề xuất Bộ Giao thông vận tải cần giao nhiệm vục ho cơ quan chức năng bổ sung chỉnh sửa Điều 1 và Điều 2 thuộc Chương 1 của Quyết định số 13/QĐ-BGTVT ngày 02 tháng 02 năm 2005 của Bộ GTVT quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm thường xả ra TNGT đang khai thác nhằm hệ thống hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xác định và xử lý điểm đen góp phần kiềm chế và tiến tới giảm thiểu TNGT đường bộ, một vấn nạn mà toàn xã hội đang phải đối mặt.
Tài liệu tham khảo
1. TS. Nguyễn Thanh Phong và cộng sự.
Nghiên cứu tiêu chí xác định điểm đen và tiêu chí đánh giá thiệt hại kinh tế xã hội do tai nạn giao thông đường bộ Việt Nam - Đề tài trọng điểm cấp Bộ GTVT năm 2006 - 2008. Viện Chiến lược và Phát triển GTVT chủ trì thực hiện, Hà Nội, 4 - 2009.
2. Ross Silcock
Các vị trí nguy hiểm trên QL1, Nghiên cứu cải thiện An toàn đường bộ Việt Nam - Dự án nâng cấp quốc lộ của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội, 1998.
3. Ross Silcock
Sổ tay điều tra và cải tạo điểm đen ở Việt Nam, Nghiên cứu cải thiện An toàn đường bộ Việt Nam - Dự án nâng cấp quốc lộ của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội 1999.
4. Công ty Tư vấn Quốc tế OPUS ( New Zealand ) và Viện Chiến lược và Phát triển GTVT
Chuẩn bị dự án an toàn giao thông đường bộ Việt Nam - giai đoạn 1 vốn vay Ngân hàng Thế giới, Hà Nội, 2005.
5. Cục Đường bộ Việt Nam
Tiêu chuẩn xác định và xử lý điểm đen trên quốc lộ, 2000 và Kỷ yếu hội thảo về điểm đen, Hà Nội, 2004.








