Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 15/09/2008 14:48 (GMT+7)

Nghiên cứu mô hình sản xuất lạc xuân đạt 5 tấn/ha trên diện tích 5 ha trở lên

1. Đặt vấn đề

Trong 25 nước trồng lạc ở Châu Á, Việt Nam đứng hàng thứ 5 về sản lượng nhưng năng suất vẫn còn thấp. Năm 1990, năng suất lạc bình quân đạt 10 tạ/ha và sản lượng đạt 218 ngàn tấn, năm 1995, năng suất lạc đạt 13 tạ/ha, sản lượng 335 ngàn tấn, đến năm 2000 năng suất đạt 18 tạ/ha sản lượng gần 400 ngàn tấn và năm 2005 sản lượng đạt đã đạt 451 ngàn tấn, mặc dù diện tích tăng không đáng kể. Tuy năng suất lạc ở Việt Nam ngày càng tăng nhưng chỉ bằng 65% năng suất lạc của Trung Quốc và Mỹ.

Nghệ An là tỉnh có diện tích và sản lượng lạc lớn nhất cả nước với diện tích trồng lạc khoảng trên 25 ngàn ha/năm và sản lượng trên dưới 45 ngàn tấn/năm. Đây là một trong những tỉnh đi đầu trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về sản xuất lạc như: giống mới, kỹ thuật che phủ ni lông, kỹ thuật thâm canh cao và đã đưa năng suất bình quân lạc từ 14 tạ/ha năm 2001 lên 20 tạ/ha năm 2006 trên diện tích lạc toàn tỉnh. 

Tuy nhiên như đã nêu trên, năng suất lạc của Nghệ An nói riêng, của Việt Nam nói chung vẫn còn rất thấp so với nhiều nước thế giới như Trung Quốc 2,9 tấn/ha, Mỹ 3,0 tấn/ha (Theo FAO, USDA (*)2005).Có 3 yếu tố chính hạn chế năng suất lạc là yếu tố phi sinh học, yếu tố sinh học và yếu tố kinh tế - xã hội. Đất trồng lạc ở Nghệ An còn rất nhiều tiềm năng, chúng ta đã chọn tạo được rất nhiều giống lạc năng suất cao, do vậy việc triển khai dự án: Nghiên cứu xác định các giải pháp kỹ thuật đồng bộ sản xuất lạc xuân đạt 5 tấn/ha ở diện tích 5 ha trở lên trên đất thâm canh có tính khả thi cao và có ý nghĩa quan trọng nhằm mở rộng mô hình này để đưa năng suất lạc bình quân ở Nghệ An đạt 25 - 30 tạ/ha so với 20 tạ/ha như hiện nay làm cơ sở để sản lượng lạc ở Nghệ An đạt 50 - 60 ngàn tấn vào năm 2010 - 2011.

2. Cơ sở xây dựng mô hình sản xuất lạc đạt 5 tấn/ha

- Đã có nhiều mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao (FAO, USDA 2005). Trong khi bình quân năng suất lạc của thế giới mới đạt 1,4 tấn/ha thì ở Trung Quốc thử nghiệm trên diện hẹp đã thu được năng suất 12 tấn/ha, cao gấp 8 lần so với năng suất lạc bình quân của thế giới. Viện nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) ở Ấn Độ đã trồng thử nghiệm lạc trên đồng ruộng của nông dân đạt 4 - 5 tấn/ha. Ở Hàn Quốc, trên những nông trại lớn đã sử dụng giống lạc mới và kỹ thuật tiến bộ cho năng suất trên 6,0 tấn/ha. Ấn Độ là nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc, qua việc thực hiện chương trình phát triển và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc đã rút ra kinh nghiệm là nếu áp dụng giống mới kết hợp kỹ thuật canh tác tiến bộ sẽ làm tăng năng suất lạc từ 50 - 63%.

- Nhiều kết quả nghiên cứu thâm canh lạc được đúc rút thành qui trình thâm canh lạc đạt năng suất trên 3,0 tấn/ha ( Nxb Nông nghiệp, 2006).

- Tập hợp kinh nghiệm và kỹ thuật thâm canh lạc đạt năng suất cao ở Việt Nam ( Nxb Nông nghiệp, 2000).

- Tổng hợp và kế thừa kết quả của đề tài “Chọn tạo và phát triển giống lạc giai đoạn 2001- 2005”. Kết quả của đề tài đã xác định được một số giống có tiềm năng năng suất cao từ 4 - 6,5 tấn/ha như L14, L18, L20. Đây là thực liệu rất quan trọng để xây dựng mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao.

Từ những dẫn liệu trên đây, các nhà khoa học đã kết luận: để đạt năng suất lạc cao cần phải sử dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật bao gồm: giống mới có năng suất cao, cân đối lượng phân bón, có chế độ tưới tiêu hợp lý phòng trừ sâu bệnh và sử dụng một số chế phẩm sinh học đặc chủng cho lạc.

3. Nội dung xây dựng mô hình

3.1. Khảo sát địa điểm thực hiện dự án (xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu và xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

3.2. Xây dựng mô hình thâm canh lạc tổng hợp để đạt năng suất 5 tấn/ha trong vụ Xuân.

3.3. Đánh giá kết quả xây dựng mô hình.

4. Phương pháp triển khai mô hình

Mô hình thâm canh được áp dụng tổng hợp theo kết quả nghiên cứu của Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ trong vụ Xuân 2006 và vụ Xuân 2007, qui trình thâm canh lạc đạt năng suất cao trên 3 tấn/ha ( Nxb Nông nghiệp, 2006), kỹ thuật đạt năng suất lạc cao ở Việt Nam (Nxb Nông nghiệp Hà Nội, 2000). Giống lạc L14 được sử dụng để xây dựng mô hình. Toàn bộ diện tích trồng lạc trong mô hình được sử dụng kỹ thuật che phủ ni lông, tưới tiêu hợp lý, phương thức phòng chống sâu bệnh tổng hợp (IPM) và sử dụng chế phẩm sinh học tổng hợp Pro và Bio - plant. Mô hình đối chứng phổ biến của nông dân được sử dụng nền phân 600kg NPK (3:9:6) + 7 ÷ 10 tấn phân chuồng và 400kg vôi cho 1ha, không che phủ nilon.

5. Kết quả xây dựng mô hình 

Kết quả bảng 1 cho thấy năng suất lạc thu được tại các mô hình thâm canh đạt từ 58,2 tạ (xã Nam Tân) đến 65 tạ/ha (xã Diễn Lộc). Tại xã Diễn Lộc, năng suất lạc theo tập quán của hộ nông dân đạt 35,2 tạ/ha trong khi năng suất mô hình thâm canh đạt 65,2 tạ/ha, tăng 84%. Còn ở xã Nam Tân, NamĐàn năng suất lạc trên mô hình đạt 58,4 tạ/ha, tăng 94% so với sản xuất theo tập quán của nông dân. Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy trong cùng một mức độ đầu tư thâm canh như nhau, đất trồng lạc ở Diễn Châu (đất cát ven biển) cho năng suất cao hơn đất trồng lạc ở Nam Đàn (đất phù sa ven sông).

Từ kết quả thu được, có thể rút ra quy trình sản xuất lạc Xuân đạt năng suất 5 tấn/hanhư sau:

* Giống lạc: L14, L20, Shán dầu 30.

* Thời vụ gieo trồng:Vụ Xuân (từ 20/1 đến 5/2)

* Làm đất và gieo hạt

- Chọn đất

Đất trồng lạc phải có thành phần cơ giới nhẹ, có độ phì cao, có điều kiện tưới và tiêu chủ động.

- Làm đất

Cày bừa nhỏ làm tơi xốp đất và nhặt sạch cỏ dại trước khi lên luống.

Khi gieo hạt, độ ẩm cần đạt khoảng 75%. Nếu đất khô phải tưới cho đủ ẩm rồi gieo hoặc tưới vào rãnh sau khi gieo.

- Lên luống rạch hàng

Luống 1,3m (cả rãnh), rãnh rộng 0,3m cao 15 - 20cm. Mặt luống rộng 1m được chia thành 4 hàng dọc theo chiều dài luống (2 hàng bên cách mép luống 12,5cm, hàng cách hàng 25cm).

Độ sâu lấp hạt 3 - 4cm

Tốt nhất thiết kế luống theo hướng Đông - Tây để tận dụng tối đa lượng bức xạ.

- Mật độ gieo

Gieo 02 hạt/hốc (hạt cách hạt 2 - 3cm) để đảm bảo mật độ 44 cây/m 2.

* Lượng phân bón và cách bón

- Lượng phân bón cho 1ha

Tối thiểu 15 tấn phân chuồng; 40 - 50kg N; 120 - 135kg P 20 5; 80 - 90kg K 20, 500kg vôi bột/ha (hoặc 15 tấn phân chuồng + 1000kg NPK (3:9:6) +225kg lân/ha). Trong phân chuồng trộn thêm lân để ủ, thời gian ủ khoảng 15 - 20 ngày; Lượng lân dùng để ủ là 15kg cho 1 tấn phân chuồng. Hiệu quả sẽ cao hơn nếu thay 30 - 40% phân chuồng bằng phân sinh học tổng hợp.

- Cách bón

Trước khi bừa lần cuối rải đều 70% lượng vôi trên ruộng. Sau khi lên luống bón toàn bộ phân chuồng, phân sinh học tổng hợp, đạm, lân, kali theo rãnh gieo, phủ kín một lớp đất trên phân trước khi gieo hạt. Lượng vôi còn lại bón đều khi kết thúc thời kỳ ra hoa rộ.

* Che phủ nylon

Cần chọn nylon đảm bảo chất lượng và chuyên dùng cho lạc: Độ dày 0,007 - 0,01cm (1kg cho phủ cho khoảng 100m 2đất).

Cách phủ nylon: Sau khi gieo và phun thuốc trừ cỏ thì căng phẳng nylon.

Vụ Thu Đông phải đục lỗ nylon theo mật độ trước khi gieo.

Vụ Xuân sau khi lạc có 2 lá mầm xoè ra thì tiến hành đục lỗ.

* Chăm sóc

- Phun thuốc trừ cỏ

Dùng các loại thuốc tiền nảy mầm như: Antaco 500ND, Staco 500 EC (có hoạt chất Acetochlor), Lasso 48EC (có hoạt chất Alachlor) Dual 720 EC (có hoạt chất Metolachlor) hoặc Raft (có hoạt chất Oxadiargye).

- Tưới nước

Phải đảm bảo đủ độ ẩm khoảng 70% vào các giai đoạn quan trọng: Khi gieo, cây có 3 - 4 lá thật và khi ra hoa.

- Sử dụng các loại phân vi lượng

Bổ sung vi lượng (Mo, B, Zn, Mg), và một số chế phẩm sinh học Bio-plant và Pro-plant vào thời kỳ thích hợp theo hướng dẫn sử dụng trên bao bì. Hai loại phân bón này được sản xuất trên dây chuyền công nghệ vi sinh tiên tiến của Mỹ, do công ty NAB nhập khẩu, công ty Cổ phần thương mại và sản xuất Thái Việt Mỹ phân phối độc quyền tại Việt Nam . Hai loại phân này được Thái Lan sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp từ nhiều năm và có tính ưu việt. Từ năm 2002, hai loại phân bón này được Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép sử dụng và hiện nay 2 loại phân bón Bio-plant và Pro-plant đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều tỉnh phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên và một số tỉnh phía Nam trên tất cả các loại cây trồng ở các mùa vụ khác nhau.

Ngoài ra, ở thời kỳ sinh thực nếu bộ lá lạc phát triển quá mạnh chúng ta có thể sử dụng chất kìm hãm sinh trưởng vào 30 - 40 ngày sau ra hoa.

- Phòng trừ sâu bệnh

Áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) lưu ý đối với một số đối tượng sâu bệnh sau:

Bệnh chết cây con:

+ Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng các loại thuốc trừ nấm Thiran 80WP, Benlác 50WP, 0,3 g/kg hạt.

+ Phun thuốc Carbedarzim 0,5 - 0,7 lít/ha, Topan 70 WP, 0,3 - 0,5kg/ha khi xuất hiện bệnh.

Các bệnh hại lá(Rỉ sắt và đốm đen): sử dụng các loại thuốc như Titlsuper 300 EC, Folicar 20 EW vừa có tác dụng hạn chế các bệnh, vừa có tác dụng tăng năng suất lạc (nếu phun được 2 lần/vụ) hoặc Daconil 80WP 15 - 17g/10 lít (phun ướt đều lá). Tiltsuper 300 ND 0,1 - 0,2 lít/ha. Topan 70WP phun theo hướng dẫn trên bao bì.

Bệnh hại quả và hạt (Bệnh mốc vàng, đốm xám vỏ hạt, đốm đen quả):xử lý hạt, đất trước khi gieo, tránh tổn thương cho cây và quả trong quá trình chăm sóc). Thu hoạch đúng độ chín và ngày nắng ráo, phơi ngay sau khi thu hoạch, phơi khô đạt độ ẩm 9%.

Nhóm bệnh hại tia, quả (thối tia, thối quả):Biện pháp tốt nhất là xử lý giống bằng thuốc Rovral 50WP.

Bệnh lở cổ rễ thời kỳ cây con: Sử dụng Bavistin 50FL, Carbenzim 50WP, Vicarben 50BTN, 50 HP...) hoạt chất Metalaxyl có Metaxyl 25 WP,... Tuy nhiên sử dụng các thuốc này phải phun thật đẫm 1 - 2 lần vào gốc lạc thời kỳ cây con mới chớm bệnh.

Sâu hại (Chủ yếu là sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu xám, bọ trích hút):Định kỳ kiểm tra đồng ruộng để có biện pháp phòng trừ kịp thời khi xuất hiện sâu hại.

+ Bọ trĩ: 5 con/búp ở giai đoạn 30 - 40 ngày sau mọc.

+ Rầy xanh: 5-10 con/cây ở giai đoạn 30 ngày sau mọc.

+ Sâu khoang: 5 - 10% diện tích lá bị hại ở 30 - 40 ngày sau mọc.

Phòng trừ sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu xám... sử dụng các loại thuốc như: Thuốc trừ sâu vi sinh BT, Bitadin WB, Delfin WG, Thianmectin 2 EC,... Hóa học có Hactec 50 EC, Peran 50 EC, Map - pemethrin 50 EC...

Thuốc phòng trừ :Có thể dùng thuốc trừ sâu sinh học NPV, BT để trừ sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá và 1 số thuốc hoá học thông dụng như Sunicidin, Alphan 5 EC, Basudin 40 EC - 50 EC, Suprocide 40 WP…

* Thu hoạch

+ Thu hoạch đúng độ chín (Số quả già đạt 80 - 85%) phơi ngay để giảm tỷ lệ bệnh hại quả, đặc biệt là bệnh mốc vàng sản sinh độc tố vi nấm Aflatocxin.

+ Đối với lạc giống cần thu hoạch sớm hơn lạc thương phẩm 5 - 7 ngày (khi quả già đạt 70 - 75%).

6. Kết luận

- Thành công của mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao trên 5tấn/ha như đã nêu trên là kết quả của sự kết hợp đồng bộ giữa tiến bộ kỹ thuật về giống mới và tổng hợp qui trình thâm canh bao gồm: mật độ gieo hợp lý, cân đối trong sử dụng phân bón, tưới tiêu hợp lý, công nghệ che phủ nylon, sử dụng chế phẩm sinh học phù hợp đồng thời chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh kịp thời.

- Đây là mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao đầu tiên ở Nghệ An nói riêng và ở Việt Namnói chung do vậy cần phải hoàn thiện và mở rộng mô hình góp phần phát triển sản xuất lạc ở Việt Nam .

_____________

(*) FAO:Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc. USDA:Bộ Nông nghiệp Mỹ.

Nguồn: Thông tin KH&CN Nghệ An, 4/2008, tr 5

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...
Nghệ An: Khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng
Sáng 7/8, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn và trường Cao đẳng công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tổ chức khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2026.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long
Ngày 7/8, tại Vĩnh Long, GS.TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên sau hợp nhất Liên hiệp Hội ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đội ngũ trí thức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thống nhất quy định để doanh nghiệp không phải khai báo nhiều lần
Sáng 7/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về: dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.