Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông và hồ chứa ở miền Bắc
Cá phát triển tốt trong môi trường nước ngọt và nước mặn, lợ; chịu được biên độ dao động nhiệt từ 9 - 42 0C, pH từ 6 - 9. Cá có thể sống nơi có hàm lượng ôxy hoà tan thấp, khả năng kháng bệnh cao. Rô phi là loài cá ăn tạp, bao gồm sinh vật phù du và thiên về mùn bã hữu cơ. Cá Rô phi sử dụng tốt các loại thức ăn chế biến. Nuôi trong lồng bè theo hình thức nuôi bán công nghiệp có thể đạt khối lượng cá thể 400 - 600g trong thời gian 5 - 6 tháng. Ðể giúp cho nông dân và các doanh nghiệp nắm được kỹ thuật nuôi cá Rô phi lồng, Viện nghiên cứu NTTS I đã tiến hành đề tài Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông và hồ chứa ở miền Bắc. Ðề tài được tiến hành từ 4/2004 - 4/2006.
I. Mục tiêu nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi cá Rô phi lồng trên sông và hồ chứa để cho nông dân các tỉnh phía Bắc áp dụng.
II. Nội dung nghiên cứu
a. Thiết kế lồng lưới từ vật liệu rẻ tiền phù hợp với hình thức nuôi qui mô nhỏ trên sông, hồ chứa ở các tỉnh phía Bắc. b. Nghiên cứu kỹ thuật ương cá Rô phi và lưu cá qua đông ở trong lồng trên sông, hồ. c. Thí nghiệm nuôi cá Rô phi thương phẩm trong lồng trên sông, hồ với các loại thức ăn khác nhau. d. Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông, hồ ở các tỉnh phía Bắc. III. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 3.1. Ðịa điểm và thời gian nghiên cứu
Ðề tài triển khai các thí nghiệm trên khu vực hồ chứa tiêu biểu của miền Bắc. Ðó là hồ chứa nước Ðồng Quang thuộc huyện Sóc Sơn. Ðề tài chọn sông Bắc Hưng Hải, thuộc xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, đại diện cho hệ thống sông ngòi nhỏ của miền Bắc có tiềm năng nuôi cá. Các thí nghiệm được thực hiện từ 10/6/2004 đến 10/10/2005. 3.1.1.Vật liệu xây dựng lồng bè Tre, vầu, thùng phuy, dây neo, mỏ neo, dây thép, lưới nilon 3.1.2.Cá thí nghiệm Cá Rô phi đơn tính dòng GIFT với cỡ cá 2-3 g/con, cá khỏe mạnh, không dị hình và không bệnh tật. - Cỡ cá 0,2 -5 g : Dùng thức ăn tự chế có hàm lượng protein 28%. Thành phần thức ăn bao gồm : bột cá 30%, bột đậu tương 21%, bột cám gạo 20%, bột ngô 29%. 3.2. Phương pháp 3.2.1.Nghiên cứu thiết kế lồng lưới phù hợp với hình thức qui mô nhỏ trên sông, hồ ở các tỉnh phía Bắc Thiết kế khung lồng và lồng lưới - Khung lồng có kích thước 7,8 x 6,6 m đủ mắc được 6 lồng lưới 2 x 2 x 2 m có mắt lưới a = 5, sợi 210/3 sử dụng ương cá hương và cá giống. Lưới sợi nilon mắt lưới a10 - a15 sợi 210/9 sử dụng cho giai đoạn nuôi cá thương phẩm. Vị trí đặt lồng bè gần nơi có eo ngách để tránh gió bão lớn trong quá trình nuôi 3.2.2.Thí nghiệm nuôi thương phẩm cá Rô phi lồng trên sông và hồ chứa Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm nuôi cá Rô phi thương phẩm trong lồng được bố trí ngẫu nhiên tại hai điểm : Trên sông Bắc Hưng Hải và trên hồ Ðồng Quang. Tại mỗi điểm, cá được bố trí với mật độ 100 con/m3, thức ăn dùng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein 22%, 26%. Chăm sóc quản lý: - Trong thí nghiệm nuôi lồng, cá được cho ăn bằng thức ăn viên với hàm lượng protein 22%, 26%. IV. Kết quả nghiên cứu 4.1. Một số yếu tố môi trường liên quan trong quá trình nuôi cá lồng Một số yếu tố môi trường, nhiệt độ nước từ tháng 6 đến tháng 12 biến động trong khoảng 26 – 30 0C phù hợp cho sự phát triển của cá. Chỉ số pH và hàm lượng ôxy hoà tan đều ở mức thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá Rô phi. Ngoài ra, các yếu tố khác như độ trong, CO 2, NH 4+ đều nằm trong giới hạn cho phép. 4.2. Kết quả nghiên cứu nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông và hồ 4.2.1.Chọn nguyên liệu và thiết kế lồng Vật liệu sử dụng thiết kế lồng nuôi cá rô phi gồm có tre, thùng phuy, lưới nylon kích cỡ mắt lưới khác nhau phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cá. 4.2.2.Chọn vị trí đặt lồng Vị trí đặt lồng nơi thông thoáng, không ảnh hưởng đến giao thông đường thuỷ. Nơi đặt lồng có độ sâu 4 - 6 m, lưu tốc dòng chảy 0,2 - 0,3 m/s. 4.2.3.Lưu cá hương và cá giống qua đông trong lồng trên sông và hồ chứa Giai đoạn cá hương : Qua kết quả theo dõi giai đoạn lưu cá Rô phi hương trong lồng cho thấy, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá trong nghiệm thức thả với mật độ 500 con/m3 cao hơn 2 nghiệm thức thả mật độ 1.000 và 1.500 con/m 3(P<0.05). 4.2.4.Sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn giai đoạn nuôi cá thương phẩm trên sông Qua kết quả theo dõi trong năm 2004 và 2005 cho thấy, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá trong các nghiệm thức sử dụng thức ăn có hàm lượng protein 26% đều cho cao hơn thức ăn có hàm lượng protein 22% (P<0.05). Kết quả theo dõi nuôi cá Rô phi thương phẩm trên hồ của hai năm 2004 và 2005 cho thấy, việc sử dụng thức ăn có hàm lượng protein 26% đã làm tăng tốc độ sinh trưởng so với thức ăn có hàm lượng protein 22% (P<0.05). Kết quả về tốc độ sinh trưởng của cá Rô phi nuôi thương phẩm trong lồng trên hồ và sông năm 2004 và 2005 cho phép chúng ta kết luận, thức ăn (cả thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế) có hàm lượng protein 26% phù hợp và tốt hơn thức ăn có hàm lượng protein 22% (P<0.05). 4.2.5.Tốc độ sinh trưởng của cá Rô phi trong các nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế không có sự khác biệt V. Kết luận 5.1.Sử dụng các nguyên liệu sẵn có của địa phương như tre, vầu, thùng phuy để xây dựng lồng bè sẽ tiết kiệm và chủ động trong thi công. Việc giảm chi phí đầu tư phù hợp với khả năng của người nông dân. 5.2.Lưu giống trong lồng trên sông và hồ của đề tài cho phép khẳng định hiệu quả kinh tế trong việc giảm chi phí vận chuyển, tránh cá khỏi bị xây sát, giúp cá có thể phát triển tốt ngay sau khi thả. Mật độ lưu cá Rô phi giống thích hợp là 500 con/m3. 5.3.Thức ăn có hàm lượng 26%-28% prôtêin cho thấy phù hợp cho giai đoạn nuôi thương phẩm cá Rô phi. 5.4.Ðể đạt được quy cỡ cá Rô phi thương phẩm 600g/con trong thời gian 6 tháng thì mật độ cá thả trong lồng là 100 con/m3, cỡ cá thả 20 - 30 g/con và hệ số thức ăn từ 1,8 - 2,0. 5.5.Kết quả của việc sử dụng các nguyện liệu sẵn có của địa phương trong việc sản xuất thức ăn cho kết quả tốt tương đương với thức ăn công nghiệp. Nông dân chủ động được thức ăn và giảm chi phí thức ăn cũng như giảm giá thành sản phẩm.
|

a. Thiết kế lồng lưới từ vật liệu rẻ tiền phù hợp với hình thức nuôi qui mô nhỏ trên sông, hồ chứa ở các tỉnh phía Bắc.
Ðề tài triển khai các thí nghiệm trên khu vực hồ chứa tiêu biểu của miền Bắc. Ðó là hồ chứa nước Ðồng Quang thuộc huyện Sóc Sơn. Ðề tài chọn sông Bắc Hưng Hải, thuộc xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, đại diện cho hệ thống sông ngòi nhỏ của miền Bắc có tiềm năng nuôi cá. Các thí nghiệm được thực hiện từ 10/6/2004 đến 10/10/2005.
Cá Rô phi đơn tính dòng GIFT với cỡ cá 2-3 g/con, cá khỏe mạnh, không dị hình và không bệnh tật.
- Khung lồng có kích thước 7,8 x 6,6 m đủ mắc được 6 lồng lưới 2 x 2 x 2 m có mắt lưới a = 5, sợi 210/3 sử dụng ương cá hương và cá giống. Lưới sợi nilon mắt lưới a10 - a15 sợi 210/9 sử dụng cho giai đoạn nuôi cá thương phẩm.
Thí nghiệm nuôi cá Rô phi thương phẩm trong lồng được bố trí ngẫu nhiên tại hai điểm : Trên sông Bắc Hưng Hải và trên hồ Ðồng Quang. Tại mỗi điểm, cá được bố trí với mật độ 100 con/m3, thức ăn dùng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein 22%, 26%.
Một số yếu tố môi trường, nhiệt độ nước từ tháng 6 đến tháng 12 biến động trong khoảng 26 – 30 0C phù hợp cho sự phát triển của cá. Chỉ số pH và hàm lượng ôxy hoà tan đều ở mức thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá Rô phi. Ngoài ra, các yếu tố khác như độ trong, CO 2, NH 4+ đều nằm trong giới hạn cho phép.
Vị trí đặt lồng nơi thông thoáng, không ảnh hưởng đến giao thông đường thuỷ. Nơi đặt lồng có độ sâu 4 - 6 m, lưu tốc dòng chảy 0,2 - 0,3 m/s. 






