Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/05/2008 21:40 (GMT+7)

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông và hồ chứa ở miền Bắc

Cá phát triển tốt trong môi trường nước ngọt và nước mặn, lợ; chịu được biên độ dao động nhiệt từ 9 - 42 0C, pH từ 6 - 9. Cá có thể sống nơi có hàm lượng ôxy hoà tan thấp, khả năng kháng bệnh cao. Rô phi là loài cá ăn tạp, bao gồm sinh vật phù du và thiên về mùn bã hữu cơ. Cá Rô phi sử dụng tốt các loại thức ăn chế biến. Nuôi trong lồng bè theo hình thức nuôi bán công nghiệp có thể đạt khối lượng cá thể 400 - 600g trong thời gian 5 - 6 tháng. Ðể giúp cho nông dân và các doanh nghiệp nắm được kỹ thuật nuôi cá Rô phi lồng, Viện nghiên cứu NTTS I đã tiến hành đề tài Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông và hồ chứa ở miền Bắc. Ðề tài được tiến hành từ 4/2004 - 4/2006.

I. Mục tiêu nghiên cứu

Nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi cá Rô phi lồng trên sông và hồ chứa để cho nông dân các tỉnh phía Bắc áp dụng.

II. Nội dung nghiên cứu

Bảng 1. Kết quả lưu cá Rô phi giống qua đông trong lồng trên sông và hồ. a. Thiết kế lồng lưới từ vật liệu rẻ tiền phù hợp với hình thức nuôi qui mô nhỏ trên sông, hồ chứa ở các tỉnh phía Bắc.

b. Nghiên cứu kỹ thuật ương cá Rô phi và lưu cá qua đông ở trong lồng trên sông, hồ.

c. Thí nghiệm nuôi cá Rô phi thương phẩm trong lồng trên sông, hồ với các loại thức ăn khác nhau.

d. Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông, hồ ở các tỉnh phía Bắc.

III. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1. Ðịa điểm và thời gian nghiên cứu

Bảng 1. Kết quả lưu cá Rô phi giống qua đông trong lồng trên sông và hồ.
Bảng 2. Kết quả nuôi cá Rô phi thương phẩm mật độ thả 100 con/m3 trong lồng trên sông (từ 12/06 đến 30/12/2004) (Mean SE).Ðề tài triển khai các thí nghiệm trên khu vực hồ chứa tiêu biểu của miền Bắc. Ðó là hồ chứa nước Ðồng Quang thuộc huyện Sóc Sơn. Ðề tài chọn sông Bắc Hưng Hải, thuộc xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, đại diện cho hệ thống sông ngòi nhỏ của miền Bắc có tiềm năng nuôi cá. Các thí nghiệm được thực hiện từ 10/6/2004 đến 10/10/2005.

3.1.1.Vật liệu xây dựng lồng bè

Tre, vầu, thùng phuy, dây neo, mỏ neo, dây thép, lưới nilon

3.1.2.Cá thí nghiệm

Bảng 3. Kết quả nuôi cá Rô phi thương phẩm mật độ thả 100 con/m3 trong lồng trên sông (giai đoạn từ 12/04/2005 đến 12/10/2005) (Mean SE)Cá Rô phi đơn tính dòng GIFT với cỡ cá 2-3 g/con, cá khỏe mạnh, không dị hình và không bệnh tật.

- Cỡ cá 0,2 -5 g : Dùng thức ăn tự chế có hàm lượng protein 28%. Thành phần thức ăn bao gồm : bột cá 30%, bột đậu tương 21%, bột cám gạo 20%, bột ngô 29%.

3.2. Phương pháp

3.2.1.Nghiên cứu thiết kế lồng lưới phù hợp với hình thức qui mô nhỏ trên sông, hồ ở các tỉnh phía Bắc

Thiết kế khung lồng và lồng lưới

Bảng 4. Kết quả nuôi cá Rô phi thương phẩm mật độ thả 100 con/m3 trong lồng trên hồ (từ 12/06 đến 30/12/2004) (Mean SE)- Khung lồng có kích thước 7,8 x 6,6 m đủ mắc được 6 lồng lưới 2 x 2 x 2 m có mắt lưới a = 5, sợi 210/3 sử dụng ương cá hương và cá giống. Lưới sợi nilon mắt lưới a10 - a15 sợi 210/9 sử dụng cho giai đoạn nuôi cá thương phẩm.

Vị trí đặt lồng bè gần nơi có eo ngách để tránh gió bão lớn trong quá trình nuôi

3.2.2.Thí nghiệm nuôi thương phẩm cá Rô phi lồng trên sông và hồ chứa

Bố trí thí nghiệm:

Bảng 5. Kết quả mở rộng quy mô nuôi Rô phi thương phẩm trong lồng trên sông, hồ (10/4 - 10/10/2005)Thí nghiệm nuôi cá Rô phi thương phẩm trong lồng được bố trí ngẫu nhiên tại hai điểm : Trên sông Bắc Hưng Hải và trên hồ Ðồng Quang. Tại mỗi điểm, cá được bố trí với mật độ 100 con/m3, thức ăn dùng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein 22%, 26%.

Chăm sóc quản lý:

- Trong thí nghiệm nuôi lồng, cá được cho ăn bằng thức ăn viên với hàm lượng protein 22%, 26%.

IV. Kết quả nghiên cứu

4.1. Một số yếu tố môi trường liên quan trong quá trình nuôi cá lồng

Bảng 6. Hạch toán kinh tế nuôi cá lồng trên hồ với mô hình nuôi mở rộng (sử dụng thức ăn tự chế. Ðơn vị : 1 lồng 6 m3)Một số yếu tố môi trường, nhiệt độ nước từ tháng 6 đến tháng 12 biến động trong khoảng 26 – 30 0C phù hợp cho sự phát triển của cá. Chỉ số pH và hàm lượng ôxy hoà tan đều ở mức thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá Rô phi. Ngoài ra, các yếu tố khác như độ trong, CO 2, NH 4+ đều nằm trong giới hạn cho phép.

4.2. Kết quả nghiên cứu nuôi cá Rô phi trong lồng trên sông và hồ

4.2.1.Chọn nguyên liệu và thiết kế lồng

Vật liệu sử dụng thiết kế lồng nuôi cá rô phi gồm có tre, thùng phuy, lưới nylon kích cỡ mắt lưới khác nhau phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cá.

4.2.2.Chọn vị trí đặt lồng

Bảng 7. Hiệu quả kinh tế đối với mô hình lồng nuôi trên sông (1 lồng 6m3)Vị trí đặt lồng nơi thông thoáng, không ảnh hưởng đến giao thông đường thuỷ. Nơi đặt lồng có độ sâu 4 - 6 m, lưu tốc dòng chảy 0,2 - 0,3 m/s.

4.2.3.Lưu cá hương và cá giống qua đông trong lồng trên sông và hồ chứa

Giai đoạn cá hương :

Qua kết quả theo dõi giai đoạn lưu cá Rô phi hương trong lồng cho thấy, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá trong nghiệm thức thả với mật độ 500 con/m3 cao hơn 2 nghiệm thức thả mật độ 1.000 và 1.500 con/m 3(P<0.05).

4.2.4.Sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn giai đoạn nuôi cá thương phẩm trên sông

Qua kết quả theo dõi trong năm 2004 và 2005 cho thấy, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá trong các nghiệm thức sử dụng thức ăn có hàm lượng protein 26% đều cho cao hơn thức ăn có hàm lượng protein 22% (P<0.05).

Kết quả theo dõi nuôi cá Rô phi thương phẩm trên hồ của hai năm 2004 và 2005 cho thấy, việc sử dụng thức ăn có hàm lượng protein 26% đã làm tăng tốc độ sinh trưởng so với thức ăn có hàm lượng protein 22% (P<0.05).

Kết quả về tốc độ sinh trưởng của cá Rô phi nuôi thương phẩm trong lồng trên hồ và sông năm 2004 và 2005 cho phép chúng ta kết luận, thức ăn (cả thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế) có hàm lượng protein 26% phù hợp và tốt hơn thức ăn có hàm lượng protein 22% (P<0.05).

4.2.5.Tốc độ sinh trưởng của cá Rô phi trong các nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế không có sự khác biệt

V. Kết luận

5.1.Sử dụng các nguyên liệu sẵn có của địa phương như tre, vầu, thùng phuy để xây dựng lồng bè sẽ tiết kiệm và chủ động trong thi công. Việc giảm chi phí đầu tư phù hợp với khả năng của người nông dân.

5.2.Lưu giống trong lồng trên sông và hồ của đề tài cho phép khẳng định hiệu quả kinh tế trong việc giảm chi phí vận chuyển, tránh cá khỏi bị xây sát, giúp cá có thể phát triển tốt ngay sau khi thả. Mật độ lưu cá Rô phi giống thích hợp là 500 con/m3.

5.3.Thức ăn có hàm lượng 26%-28% prôtêin cho thấy phù hợp cho giai đoạn nuôi thương phẩm cá Rô phi.

5.4.Ðể đạt được quy cỡ cá Rô phi thương phẩm 600g/con trong thời gian 6 tháng thì mật độ cá thả trong lồng là 100 con/m3, cỡ cá thả 20 - 30 g/con và hệ số thức ăn từ 1,8 - 2,0.

5.5.Kết quả của việc sử dụng các nguyện liệu sẵn có của địa phương trong việc sản xuất thức ăn cho kết quả tốt tương đương với thức ăn công nghiệp. Nông dân chủ động được thức ăn và giảm chi phí thức ăn cũng như giảm giá thành sản phẩm.

Nguồn: Thông tin KHCN và Kinh tế Thuỷ sản, 6/2007,06/2007

Bảng 7. Hiệu quả kinh tế đối với mô hình lồng nuôi trên sông (1 lồng 6m3)
Bảng 6. Hạch toán kinh tế nuôi cá lồng trên hồ với mô hình nuôi mở rộng (sử dụng thức ăn tự chế. Ðơn vị : 1 lồng 6 m3)
Bảng 5. Kết quả mở rộng quy mô nuôi Rô phi thương phẩm trong lồng trên sông, hồ (10/4 - 10/10/2005)
Bảng 4. Kết quả nuôi cá Rô phi thương phẩm mật độ thả 100 con/m3 trong lồng trên hồ (từ 12/06 đến 30/12/2004) (Mean SE)
Bảng 3. Kết quả nuôi cá Rô phi thương phẩm mật độ thả 100 con/m3 trong lồng trên sông (giai đoạn từ 12/04/2005 đến 12/10/2005) (Mean SE)
Bảng 2. Kết quả nuôi cá Rô phi thương phẩm mật độ thả 100 con/m3 trong lồng trên sông (từ 12/06 đến 30/12/2004) (Mean SE).

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...