Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 12/06/2008 22:35 (GMT+7)

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc giảm protein tổng số trên cơ sở cân đối ở mức thấp một số axit amin thiết yếu trong thức ăn hỗn hợp đến khả năng sinh trưởng của lợn lai thương phẩm giai đoạn từ 18 đến 50 kg

KPTNđược tính toán đảm bảo 3200 kcal ME và 9g lysine/ kg thức ăn (TA). Tỷ lệ protein thô được thiết kế giảm qua các mức: 18; 17; 16% tương ứng với các lô 1, 2 và 3. Sử dụng các AA tinh thể (AA tổng hợp) L- lysine, D, L- methionine, L- threonine và L- tryptophan bổ sung để cân đối dựa trên mức lysine theo ARC (1981); Wang, Fuller (1989); Cole (1992); Baker, Chung (1992).

Kết quả TN cho thấy, các KP có mức giảm tỉ lệ protein thô 18 - 17 - 16% được cân bằng0 4 AA thiết yếu làm giảm sinh trưởng của lợn với mức tương quan R = 0,23455 nhưng không có sai khác thống kê về khối lượng (KL) cơ thể (P ≥ 0,05). Mặc dù tiêu tốn và chi phí TA/ kg tăng KL có chiều hướng tăng lên khi lợn được nuôi bằng KP giảm protein, nhưng năng suất và thành phần hoá học của thịt lợn không có sai khác rõ rệt. Trong chăn nuôi lợn ngoại sinh trưởng ở giai đoạn 18 - 50 kg nên sử dụng khẩu phần 17% protein có cân bằng 4 AA thiết yếu để góp phần tiết kiệm TA đạm, tăng hiệu quả chăn nuôi.

Từ khoá:Axit amin thiết yếu dạng tinh thể, lợn lai thương phẩm, giảm prôtein thô.

1. Mở đầu

Vì những lý do kinh tế và an toàn môi trường, hiện nay trong chăn nuôi lợn thịt đang có xu hướng nghiên cứu giảm mức protein trên cơ sở cân đối chặt chẽ các axit amin (AA) trong KP. Với mục đích chỉ cung cấp đủ lượng protein trên cơ sở cân đối AA lý tưởng dựa trên mô hình của Wang và Fuller (1989) cho lợn sinh trưởng thì việc nghiên cứu mức giảm protein hợp lý trên cơ sở cân đối một số AA thiếu hụt nhiều nhất trong KP lại càng có ý nghĩa hơn.

Trong các nguồn TA, protein tự nhiên dùng để nuôi lợn thịt thường không đủ các AA thiết yếu, đặc biệt là lysine, methionine, threonine và tryptophan. Để đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu AA cho sinh trưởng của lợn thịt, cần phải phối hợp KP có tỉ lệ protein cao, trong trường hợp này có một hệ luỵ tất yếu là sự dư thừa protein dẫn tới thải nitơ theo phân và nước tiểu gây ô nhiễm môi trường. Điều này đã được các tác giả Nguyễn Nghi, Vương Nam Trung (1995) xác nhận trong các nghiên cứu của mình.

Ngược lại, nếu giảm thấp tỷ lệ protein KP mà chú ý bổ sung các AA tổng hợp sẽ không gây thiếu hụt các AA cần thiết trên và lại giảm tác động xấu đến môi trường. Nghiên cứu mới đây của trường Đại học Kentucky (Mỹ) đã cho biết việc đào thải nitơ đã giảm từ 15 đến 20% khi giảm đi 2% protein tổng số của KP có bổ sung lysine, và lượng nitơ giảm đi 30 - 35% khi giảm 4% protein tổng số có bổ sung các AA.

Trong chăn nuôi lợn thịt ở Việt Nam, việc sử dụng các AA tổng hợp như lysine, methionine trong TA đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay. Nhưng, những nghiên cứu sử dụng các AA khác như threonine và tryptophan, hầu hết mới chỉ tiến hành trên lợn con giai đoạn bú sữa và chỉ dừng ở mức bổ sung trên nền TA có tỷ lệ protein thô cao. Ở giai đoạn 20 - 50 kg khối lượng cơ thể của lợn thịt giống ngoại, nước ta hiện nay thường áp dụng mức lysine theo hướng dẫn của ARC (1981); NRC (1998) là 10 g/kg TA tổng hợp. Các AA thiết yếu khác tính theo mức lysine để xác định cụ thể theo hướng dẫn. Tuy nhiên, theo thực tiễn của thị trường TA trong nước, các AA tổng hợp threonine và tryptophan hiện nay đều rất đắt tiền, vì vậy việc sử dụng AA tổng hợp để cân đối nhu cầu của AA cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng trên cơ sở cân đối với các thành phần dinh dưỡng khác. Trong các nghiên cứu đang tiến hành, chúng tôi xác định ảnh hưởng của sự giảm mức protein tổng số trong KP trên cơ sở cân đối một số AA thiết yếu ở các mức khác nhau bằng cách bổ sung L- lysine, D, L- methionine, L- threonine và L- tryptophan. Trong bài viết này chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của sự giảm mức protein trên cơ sở cân đối ở mức thấp một số axit amin thiết yếu tới sinh trưởng của lợn thịt giống ngoại từ 18 đến 50 kg.

Nghiên cứu nhằm tìm ra mức protein thấp nhất có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, có hiệu suất chuyển hoá TA cao để nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

2. Phương pháp

Tổng số 66 lợn lai thương phẩm cùng giống có khối lượng ban đầu bình quân 18 kg/con, tỷ lệ đực/ cái là 1/1 được chia làm 3 lô thí nghiệm so sánh theo kiểu bậc thang, mỗi lô 22 con cho 2 lần TN nhắc lại. Lợn được tẩy giun sán và tiêm phòng đầy đủ trước khi vào TN chính thức theo chế độ ăn tự do trong hệ thống chuồng hở sử dụng máng ăn bán tự động, uống nước tự do trên vòi uống tự động.

Nguyên liệu để phối hợp KP TN gồm ngô đỏ, khô đỗ tương, cám bột, bột cá, dầu thực vật, L- lysine, D, L- methionine, L- tryptophan, L-threonine, premix vitamin + khoáng vi lượng dicalciphosphate và bột đá. Trong đó, ngô đỏ, khô đỗ tương và bột cá được rang chín thơm trước khi phối trộn. Các nguyên liệu TA được dự trữ đầy đủ trong suốt thời gian thí nghiệm được phân tích xác định thành phần hoá học tại Phòng thí nghiệm trung tâm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên để làm căn cứ tính toán phối hợp KP.

Công thức TA TN được xây dựng trên phần mềm OPTIMIX. KP được thiết kế cho cả 3 lô TN có cùng mức lysine thấp là 9 g/kg TA hỗn hợp nhưng protein tổng số giảm lần lượt là: 180 - 170 - 160 g/kg trên nền năng lượng 3200 KCal/kg TA. Các AA như methionine + cystin, threonine, và tryptophan được cân đối đủ theo tỷ lệ tương ứng với lysine như hướng dẫn của ARC (1981); Wang, Fuller (1989); Cole (1992); Baker và Chung (1992). Công thức hỗn hợp TA TN được trình bày trong Bảng sau đây.

TA được trộn theo nguyên tắc “vết dầu loang”, sau đó trộn đều bằng máy trên đây chuyển công nghệ của công ty TA chăn nuôi Đạt Minh Thái Nguyên. TA thành phẩm có dạng bột.

Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Sinh trưởng tích lũy (kg/con): Tiêu tốn TA và tiêu tốn protein/kg tăng KL (kg); Chi phí TA/kg tăng KL (đồng); Kết quả khảo sát và phân tích chất lượng thịt.

Kết quả TN được xử lý thống kê trên phần mềm STAGRAPH verion 4.0.

3. Kết quả và thảo luận

3.1 Sinh trưởng tích luỹ của lợn TN

Bảng 1. Khối lượng lợn thịt thí nghiệm qua các kỳ cân (kg/con)

Bảng 1. Khối lượng lợn thịt thí nghiệm qua các kỳ cân (kg/con)

Kết quả sinh trưởng tích luỹ của lợn TN ở Bảng 1 cho thấy tuy KL lợn trung bình đưa vào TN ở cả 3 lô là tương đương nhau lần lượt là 18,10 - 18,25 kg/con (P a≥ 0,05) nhưng khi kết thúc TN đã có sự thay đổi. Chúng tôi nhậnthấy trong suốt quá trình TN, KL của lợn đều tăng lên theo thời gian, biểu thị sự phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia súc. Tuy cả 3 lô đều có mức lysine thấp là 9g/kg TA, nhưng lô 1 có tỷ lệprotein cao (18%) đã cho kết quả về KL cơ thể trung bình đạt cao nhất là 48,32 kg/con sau 45 ngày nuôi, lô 2 (mức protein 17%) đạt 46,36 kg/con. Mặc dù sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P> 0,05) nhưng thể hiện rõ một quy luật là với KP cân đối ở mức thấp một số AA thiết yếu (tính theo lysine) khi giảm mức protein lần lượt là 180 - 170 - 160 g/kg TA hỗn hợp thì sự sinh trưởng củalợn ngoại nuôi thịt cũng giảm dần.

Phương trình tương quan giữa KL lợn khi kết thúc TN là tỷ lệ protein trong TA:

Y = 18,43330 + 1,66364X với hệ số tương quan R = 0,23455 cho thấy tương quan giữa hai đại lượng này là khá rõ ràng, hay nói cách khác, khi giảm tỷ lệ protein của KP mà vẫn giữ một số AA thiết yếu ở mức thấo thì ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của lợn.

3.2 Ảnh hưởng của việc giảm tỷ lệ protein trong KP có cân đối ở mức thấp một số AA thiết yếu đến hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phí của TN

Bảng 2. Tiêu tốn thức ăn (kg) và protein (g/kg) tăng khối lượng của lợn thí nghiệm

Bảng 2. Tiêu tốn thức ăn (kg) và protein (g/kg) tăng khối lượng của lợn thí nghiệm

Số liệu theo dõi về tiêu tốn TA và tiêu tốn protein/kg tăng KL lợn TN ở thời điểm kết thúc TN ở 45 ngày nuôi trình bày tại Bảng 2.

Bảng 2 cho thấy:

Tiêu tốn tăng theo mức giảm của tỷ lệ protein trong KP lần lượt là 1,858; 1,935 và 1,957 kg TA tương ứng với 3 mức protein giảm dần: 18, 17, 16% cao hơn so với lô TN có mức protein cao nhất (lô 1) từ 4,14% đến 5,33%. Ngược lại, tiêu tốn protein lại giảm dần theo chiều giảm của tỷ lệ protein, giảm lần lượt: 334,44; 328,95 và 313,12 g/kg tăng KL tương ứng 3 mức protein giảm dần theo thứ tự lô 1, 2 và 3 với mức giảm 1,64% và 6,37% so với lô cao nhất (giả thiết là 100%). Như vậy, việc giảm tỷ lệ protein của KP mà giữ cân đối AA ở mức thấp có xu hướng làm giảm hiệu suất sử dụng TA của lợn TN. Nguyên nhân – theo chúng tôi là do giảm tốc độ sinh trưởng của lợn ở KP có tỷ lệ protein thấp, mặt khác còn do ảnh hưởng của tỷ lệ tiêu hoá khác nhau của lợn đối với KP có mức protein thấp hơn. Các tác giả Otto và cs. (2003); Hồ Trung Thông và cs. (2004) cũng cho thấy tỉ lệ tiêu hoá protein tăng lên khi tăng mức protein trong KP. Tuy nhiên, trong TN này, các AA chỉ được cân đối ở mức thấp, nhưng do cân đối được 4 AA thiết yếu quan trọng nhất nên mức độ giảm có phần ít hơn.

Về chi phi TA, kết quả tính toán thể hiện ở Bảng 3.

Bảng 3. Chi phí thức ăn/1 kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm

Bảng 3. Chi phí thức ăn/1 kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm

Bảng 3 cho thấy khi tính toán về hiệu quả kinh tế của việc nuôi lợn bằng các KP có tỷ lệ protein giảm có cân đối ở mức thấp một số AA thiết yếu, chúng tôi thấy, chi phí TA (đồng/kg tăng KL)của lợn tăng lên theo chiều giảm tỷ lệ protein. Ở KP có 18% protein (lô 1) chi phí TA là 8.242,96 đồng/kg, ở khẩu phần có 17% protein (giảm 1%) (lô 2) chi phí TA tăng lên thành 8.463,69 đồng (tươngứng là 2,68%) và khi giảm đi 2% protein ở lô 3 thì chi phí TA tăng cao nhất tới 8.581,45 đồng khi giảm mức protein xuống 16% (tương ứng cao hưon 4,11% so với lô 1).

Điều này cho thấy, việc giảm tỷ lệ protein thô của KP tiết kiệm được thức ăn protein (Bảng 2), nhưng nếu giảm thấp hơn 2% (lô 3) thì lại đẩy chi phí TA lên cao nhất do phải cân đối đủ các AA lysine, threonine, methionine và tryptophan theo nhu cầu của lợn bằng các AA tổng hợp, trong khi giá các AA này còn cao trên thị trường. Đây là những hạn chế của thực tiễn, đòi hỏi sự khắc phục bằng các giải pháp công nghệ sản xuất AA tổng hợp rẻ tiền để việc chăn nuôi lợn thịt bằng KP giảm protein trên cơ sở cân đối AA ở mức thấp thực sự mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường.

3.3 Ảnh hưởng của việc giảm mức protein có cân đối ở mức thấp một số axit amin thiết yếu đến năng suất và thành phần hoá học của thịt lợn

Kết quả mổ khảo sát được trình bày ở Bảng 4.

Bảng 4. Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm

Bảng 4. Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm

Kết quả Bảng 4 cho thấy với KL cuối TN từ 47,0 kg đến 48,2 kg, các chỉ tiêu khảo sát không có sự khác nhau nhiều giữa các lô. Tuy nhiên khi phân tích chi tiết, chúng tôi thấy khi giảm tỷ lệprotein trong KP, tỷ lệ nạc có xu hướng giảm còn tỷ lệ mỡ lại có xu hướng tăng lên. Có thể giải thích xu hướng trên là do tỷ lệ protein/ năng lượng giảm đi khi giảm thấp mức protein KP đã góp phầnthúc đẩy sự tích luỹ dưới dạng mỡ nguồn năng lượng dư thừa không được sử dụng cho các phản ứng tổng hợp và tích luỹ protein. Xu hướng này cũng được xác nhận của một số tác giả khác trong các nghiêncứu đã đăng tải rằng tỷ lệ thịt nạc cũng có xu hướng giảm khi sử dụng KP có tỷ lệ protein thấp và được bổ sung thêm AA tổng hợp cho lợn vỗ béo (Thomke và cs. 1995; Van de Light và cs. 2002).

Kết quả phân tích thành phần hoá học thịt lợn được trình bày ở Bảng 5.

Bảng 5. Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn thí nghiệm (% trong thịt tươi)

Bảng 5. Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn thí nghiệm (% trong thịt tươi)

Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn TN cho thấy, hầu như không có sự khác nhau về tỷ lệ các thành phần hoá học thịt, nhất là các tỷ lệ protein của thịt lợn khi được nuôi bằngcác KP có tỷ lệ protein giảm và được cân đối ở mức thấp một số AA thiết yếu. Riêng mỡ có xu hướng tăng lên theo sự giảm protein do sự tích luỹ năng lượng thừa. Điều này cho thấy, khi giảm tỷ lệprotein thô của KP mà vẫn giữ nguyên mức AA thiết yếu tính theo lysine trong KP thì không ảnh hưởng đến thành phần hoá học của thịt lợn.

4. Kết luận

Từ các kết quả thu được ở trên cho phép kết luận:

Giảm tỷ lệ protein trong TA từ 18% xuống 16%, với mức lysine không đổi 9g/kg TA và có cân đối các AA như: methionine, threonine, tryptophan theo hướng dẫn của ARC (1981) làm thay đổi sự sinh trưởng của lợn ngoại nuôi thịt giai đoạn 18 - 50kg với tương quan R = 0,23455 nhưng không có sai khác thống kê ở mức có ý nghĩa (P > 0,05).

Tiêu tốn và chi phí TA tăng theo sự giảm mức protein KP nhưng không làm thay đổi các chỉ tiêu thân thịt và chất lượng thịt của lợn ngoại sinh trưởng giai đoạn 18 - 50kg.

Khi cân đối các axit amin thiết yếu ở mức thấp tính theo mức 9g lysnie/kg TA, nên sử dụng TA có tỷ lệ protein thô 17% là thích hợp nhất cả về sinh trưởng và hiệu quả kinh tế.

Tài liệu tham khảo

1. ARC - Agricultaral Research Council (1981). The Nutrient requirement for pigs. Comonwealth agricultural Bureaux, Slough, England, p. 124.

2. Baker, D.H.; Chung, T.K. (1992). Ideal protein for swine and poultry. Kyowa Hakko technical review. 4, 16s.

3. Cole, D.J.A (1992). Interaction between energy and amino acid balance. 2 thInternational feed production conference 25 - 26. Piacenza, Italy.

4. H.T Thong and F. Liebert. (2004). Amino acid requirement of growing pigs depending on amino acid efficency and level of protein deposition, i stcommunication: lysine. Arch. Anim. Nutr., Vol. 58 (1), pp. 69 - 87.

5. Komise vyziva hosodarskych zvirat (1993). Potreba zinvin a tabulky vyzivne hodnoty krmive pro prasata. Ceska akademie zemedelskych ved. Ceska republika.

6. Nguyễn Nghi, Vương NamTrung (1995), “Nghiên cứu bổ sung lysine vào khẩu phần của lợn thịt với thức ăn cơ sở”, Viện khoa học nông nghiệp miền Nam .

7. NRC (1998). Nutrient requirement of swine. Tenth Revised Edition. USA .

8. Otto. E.R.; Yokoyama M., Ku P.K; Ames N. K; and Trottier N. L (2003). Nitrogen balance and ileal amino acid digestibility in growing pigs fed diets reduced in protein concentration. J. Amin. Sci. 81: 1743 – 1753.

9. Thomke, S.; Alaviuhkola, T.; Madsen, A. Sundstol F. Mortensen. H. P.; Vangen O. (1995. Dietary energy and protein for growing pigs. Acta. Agric. Scand. Sect. A. Animanl Sci. 45. 54 - 63.

10. Van de Ligt C.P. A., Lindemann M.D., and Cromwell G. L. (2002). Assessment of chromium tripicolinate supplementation and dietary protein level on growth, carcass, and blood criterial in growing pigs. J. Anim. Sci. 2002. 80: 2412 - 2419.

11. Wang, T.C., Fuller, M.F (1989). The optimum dietary amino acid pattern for growing pigs. Britosh J. Nutrit. 62. s. 77 - 89.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hải Phòng: Sáp nhập Hội Làm vườn và Hội Kế hoạch hóa gia đình về Liên hiệp hội Thành phố
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa ban hành Quyết định số 3494/QĐ-UBND ngày 29/8/2026 về việc cho phép sáp nhập Hội Làm vườn thành phố Hải Phòng và Hội Kế hoạch hóa gia đình thành phố Hải Phòng vào Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng.
Thanh Hoá: Tập huấn công nghệ số và ứng dụng số trong sản xuất và đời sống
Ngày 08/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội tỉnh) đã phối hợp với Hội Tin học Thanh Hóa và Trường Đại học Hồng Đức tổ chức Hội nghị tập huấn với chủ đề “Công nghệ số và ứng dụng số cho công dân xuất sắc và tiêu biểu trong lao động và sản xuất trên địa bàn tỉnh”.
Tuyên Quang: Tổng kết dự án bảo tồn, phát huy giá trị di sản chè Shan tuyết
Ngày 04/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quỹ Môi trường Toàn cầu (UNDP/GEF SGP) tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Giải pháp thúc đẩy bảo tồn, phát huy giá trị quần thể cây di sản chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế tỉnh Tuyên Quang”.
Kỷ niệm 20 năm thành lập Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ
Sáng 6/9 tại Hà Nội, Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ (CTCS) thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập. Tại sự kiện, công trình “Almanach Những nền văn minh thế giới” do Trung tâm thực hiện đã chính thức nhận Bằng xác lập Kỷ lục Việt Nam cho công trình “Almanach những nền văn minh thế giới”.
Khởi động Dự án “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế - giai đoạn 2”
Ngày 25/8/2026, tại UBND phường Phong Điền, thành phố Huế, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (Trung tâm SRD) phối hợp với UBND phường Phong Điền tổ chức buổi họp khởi động Dự án VM083 “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế – giai đoạn 2”.